Home Công đoàn Hoạt động Chữ người tử tù nhìn dưới góc độ phương pháp sáng tác

Chữ người tử tù nhìn dưới góc độ phương pháp sáng tác

 

Đầu thế kỷ XX, bứt tung ra khỏi sự cương tỏa của thi pháp văn học trung đại, trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam đã chứng tỏ sự vươn mình thật mãnh liệt của văn học dân tộc để bắt nhịp với văn học hiện đại thế giới. Chỉ trong một thời gian rất ngắn (chưa đầy 20 năm) kể từ khi ra đời, vừa tiếp nhận những thành tựu của văn học lãng mạn Pháp thế kỷ XIX, vừa bằng khát khao đổi mới mình, văn học lãng mạn Việt Nam đã đi được những chặng đường dài, hoàn thiện dần chân dung của một trào lưu văn học. Quy tụ những sáng tác xuất sắc của những tác giả tiêu biểu: Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử...,  văn học lãng mạn đã làm nên một khuynh hướng sáng tác với những đặc trưng nổi bật nhất của  nó.


Trong trào lưu văn học lãng mạn ấy, Nguyễn Tuân là một nhà văn tiêu biểu. Mỗi tác phẩm của ông in đậm dấu ấn của một cái tôi tài hoa và độc đáo, nhưng vẫn không nằm ngoài nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa lãng mạn. Tìm hiểu tác phẩm xuất sắc nhất của ông - Chữ người tử tù - dưới góc độ phương pháp sáng tác, không chỉ là để hiểu thêm về một tác phẩm, một phong cách nghệ thuật, mà còn để hiểu thêm một trào lưu sáng tác đã có ảnh hưởng sâu rộng trên văn đàn và trong tiến trình văn học dân tộc.
1. Nhân vật trung tâm của Chữ người tử tù – kiểu nhân vật tài hoa theo lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân.
Nếu chủ nghĩa hiện thực phê phán xây dựng nhân vật theo nguyên tắc “tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình” thì chủ nghĩa lãng mạn lại xây dựng nhân vật theo mong muốn chủ quan của nhà văn. Vì thế, nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn thường vươn đến một vẻ đẹp có tính lý tưởng theo quan niệm thẩm mỹ của tác giả.  
Ở Chữ người tử tù, mọi giá trị và vẻ đẹp của tác phẩm quy tụ quanh nhân vật Huấn Cao. Nhân vật Huấn Cao là sự hội tụ của ba vẻ đẹp: TÀI HOA- KHÍ PHÁCH- THIÊN LƯƠNG. Nhưng, khí phách và thiên lương, chung quy lại, cũng là để cho cái tài hoa được thăng hoa đến mức rạng rỡ, sáng chói.  Huấn Cao xuất hiện giữa nhà ngục với tư cách là một tử tù, một kẻ “đứng đầu bọn phản nghịch”. Chống lại cả một trật tự xã hội đương thời,. Huấn Cao là một trang anh hùng dũng liệt. Nhưng ngay từ đầu tác phẩm, trước khi nhắc đến tài “bẻ khóa và vượt ngục” thì cái tên Huấn Cao đã gắn liền với một cái tài khác, tài “viết chữ rất nhanh và rất đẹp”. Như thế có nghĩa, đây mới là cái tài mà Nguyễn Tuân đặc biệt đề cao và nó sẽ là tâm điểm của mọi chi tiết xuất hiện sau đó trong tác phẩm. Thái độ kính cẩn khác thường, biệt đãi khác thường của viên quản ngục bắt nguồn từ cái tài viết chữ ấy. Nét chữ Huấn Cao ám ảnh tâm trí viên quản ngục trong những ngày Huấn Cao làm một tử tù ở chốn đề lao. Cái khát khao có được nét chữ Huấn Cao mãnh liệt đến mức gần như chi phối toàn bộ suy nghĩ và cảm xúc của viên quan coi ngục ấy: “Nơi góc án thư cũ đã nhợt màu vàng son, một cây đèn đế leo lét rọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi. Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”, “Quản ngục mong mỏi một ngày gần đây ông Huấn Cao sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết...”, “Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi...” . Tài viết chữ của Huấn Cao cũng là nguyên nhân cho một cuộc hội ngộ đặc biệt giữa ba kẻ ở những trận tuyến đối đầu nhau: Huấn Cao -  viên quản ngục - thầy thơ lại.
Khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp tài hoa của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã dụng công khắc họa nét chữ Huấn Cao. Nét chữ của ông “đẹp lắm, vuông lắm”. Bóng dáng nét chữ Huấn Cao xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm, trong câu nói trầm trồ thán phục của viên quản ngục: “Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?”.  Nét chữ ấy sáng lên trên nền âm u ảm đạm của một đêm nhà ngục: “những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người” . Vẻ đẹp cao quý thanh tao của nét chữ Huấn Cao hiện lên qua cả những chi tiết mô tả gián tiếp: phiến lụa trắng và thoi mực thơm. Rất nhiều lần Nguyễn Tuân mô tả phiến lụa trắng ấy, khi là “tấm lụa bạch”, khi là “phiến lụa óng”, khi là “tấm lụa trắng tinh”, khi là “bức lụa trắng”. Trên nền lụa trắng được đặc tả ấy, sáng lên nét chữ Huấn Cao, không chỉ “vuông tươi tắn” mà còn “nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người”. Nó không chỉ là kết quả của một bàn tay tài hoa, nó còn là kết quả của  tâm hồn phóng khoáng người nghệ sĩ. Nó đẹp không chỉ ở đường nét, nó còn đẹp hơn ở thần thái linh hồn. Nó là khát vọng một đời người nghệ sĩ.
Huấn Cao là một bậc anh hùng “chọc trời khuấy nước”. Nhưng cái chất anh hùng ấy lại được sáng lên qua nét chữ, nhờ nét chữ. Cái uy nghi lẫm liệt của Huấn Cao, cái “khinh bạc đến điều” của Huấn Cao, chẳng phải nhờ cái cung kính tôn thờ nét chữ của viên quản ngục mà càng trở nên cao sang đó sao? Cái đêm cuối cùng của cuộc đời một anh hùng trước khi lên đoạn đầu đài chẳng phải nhờ sự ra đời của những dòng thư pháp mà trở nên thiêng liêng đó sao? Và cái hoài bão tung hoành, cái chí khí của một đấng anh hào, chẳng phải nhờ kết tinh trong nét chữ cuối cùng mà được thăng hoa và bất tử đó sao?
Huấn Cao là một người có thiên lương trong sáng. Người nghệ sĩ “nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ” đã cho chữ viên quản ngục – kẻ ở trận tuyến đối đầu với mình – vì đã nhận ra cái “sở thích cao quý” và “tấm lòng biệt nhỡn liên tài”. Nhưng cái thiên lương ấy, lại cũng từ cái tài hoa mà sinh thành, nhờ cái tài hoa mà vút lên trong sáng. Cái “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục nhất định phải nảy sinh từ sự ngưỡng mộ hai chữ “tài hoa” ở Huấn Cao chứ không phải từ bất cứ một điều gì khác. Những phẩm chất khác ở Huấn Cao, chỉ là làm cho cái sự biệt nhỡn ấy càng thêm rõ nét mà thôi. Không phải sao, khi suốt cuộc đời làm viên quan coi ngục, nắm trong tay bao nhiêu kẻ tử tù, trong đó có bao nhiêu kẻ chọc trời khuấy nước, ấy thế mà, lần đầu tiên, viên quản ngục lại dám liều mình làm điều trái ngược với mọi quy định về bổn phận. Huấn Cao nhận ra tấm lòng của viên quản ngục, trước hết bằng khát khao tìm kẻ tri âm của một người nghệ sĩ, nhận ra đằng sau một thân phận quản ngục kia, là một nhân cách và một tâm hồn biết “cúi đầu bái lạy hoa mai”. Giữa chốn ngục tù, điều ấy với người nghệ sĩ tài hoa, chẳng phải quý giá và lớn lao vô cùng đó sao? Cũng giống như Bá Nha giữa chốn thâm sơn cùng cốc tìm ra một Chung Tử Kỳ, Huấn Cao giữa chốn đề lao đầy rẫy những xấu xa và tàn bạo, đã tìm ra một kẻ tri âm vậy. Để lọc ra “giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ” một “thanh âm trong trẻo”, chẳng phải rất cần đến một phẩm chất nghệ sĩ sao?
Với Nguyễn Tuân, dẫu là ai, một viên quản ngục, hay một ông đồ già, đều phải được nhìn ở tư cách nghệ sĩ. Nhưng phải đến Chữ người tử tù, với nhân vật Huấn Cao, lý tưởng thẩm mỹ ấy mới đạt đến độ kết tinh và thăng hoa. Huấn Cao là hiện thân cho lý tưởng về con người của Nguyễn Tuân, bởi vậy, vẻ đẹp tài hoa của Huấn Cao là vẻ đẹp từ khát vọng, ước mơ của nhà văn nên được đẩy lên đến mức gần như huyền thoại. Huyền thoại lan truyền khắp tỉnh Sơn để vọng vào nhà tù. Và đêm cho chữ là huyền thoại đẹp nhất. Tất cả dệt nên một huyền thoại Huấn Cao.
2. Chi tiết nghệ thuật của Chữ người tử tù – vẻ đẹp của một cảm hứng lãng mạn bay bổng.
Nếu như chủ nghĩa cổ điển có tính mực thước, khuôn mẫu, chủ nghĩa  hiện thực phê phán chú trọng đến sự chân thực của chi tiết thì chủ nghĩa lãng mạn lại phá bỏ các giáo điều, đề cao sức tưởng tượng, phát huy cao độ cái tôi giàu cảm xúc. Chi tiết trong văn học lãng mạn bao giờ cũng là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú, một cảm hứng lãng mạn bay bổng nhằm xây dựng nên những tính cách phi thường, những vẻ đẹp phi thường. Vì vậy, các chi tiết của Chữ người tử tù phải được nhìn từ góc độ đó mới lý giải được bản chất và ý nghĩa của nó.
Đêm trước khi nhận “sáu tên tù án chém” trong đó có Huấn Cao đã được Nguyễn Tuân mô tả: “ Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó sủa ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”. Có thể nhận thấy, những chi tiết trong đoạn văn trên không được chú trọng ở tính xác thực của nó mà là được chú trọng ở ý nghĩa biểu tượng. Hình ảnh khung cửa sổ có nhiều con song kẻ là để nhằm làm nổi bật một nền trời bên ngoài với những vì tinh tú và một ngôi sao chính vị. Một bên là không gian của giam hãm thân phận, một bên là không gian của cái đẹp đang đi vào cõi bất tử. Hình ảnh ngôi sao Hôm nhấp nháy ở đây rõ ràng là sản phẩm từ trí tưởng tượng và cảm xúc của nhà văn, hiện thân cho cái đẹp trong niềm ngưỡng mộ và nuối tiếc của viên quản ngục.
Thống nhất trong hệ thống hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng, chi tiết bó đuốc xuất hiện cuối tác phẩm cũng mang tính chất đó. Đêm cuối trước khi lên kinh chịu án, Huấn Cao đã cho chữ viên quản ngục: “Trong một không khí như khói tỏa đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn ngyên vẹn lần hồ”. Khó có thể coi đây là một chi tiết xác thực. Xét về logic của sự thật, việc viên quản ngục xin chữ trong đề lao, lại xin chữ tên tử tù là điều trái với bổn phận và quy định, có thể ảnh hưởng đến sự an toàn tính mạng. Bởi vậy, việc xin chữ làm sao có thể diễn ra trong một không khí như khói tỏa của đám cháy nhà thế kia?  Nhưng nếu không có cái bó đuốc cháy sáng rừng rực ấy, sao cái đẹp có thể được thăng hoa, được tôn vinh, sao có thể tạo nên một cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”, sao có thể tạo nên dáng vóc lồng lộng phi thường của Huấn Cao? Vậy là, hình ảnh bó đuốc và không khí đặc biệt rực rỡ ấy chỉ có thể là hình ảnh của trí tưởng tượng của nhà văn, trong một cảm hứng ngợi ca đặc biệt. Nó, vì vậy, mang vẻ đẹp ở ý nghĩa biểu tượng chứ không phải ở ý nghĩa tả thực.
Cái tôi tài hoa của Nguyễn Tuân đã hòa hợp với phương pháp sáng tác của chủ nghĩa lãng mạn để tạo nên những chi tiết độc đáo, những tính cách phi thường và trên hết, một tác phẩm xuất sắc. Vì vậy, phải từ những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa lãng mạn để tìm hiểu Chữ người tử tù, mới có thể lý giải, cắt nghĩa các yếu tố của văn bản hợp lý hơn, sâu sắc hơn.

10.2012.

 

Nguyễn Thị Minh Tâm
Tổ Văn- THPT Chuyên

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm