Home Nghiên cứu khoa học TRÌNH BÀY Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ SGK 12

TRÌNH BÀY Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ SGK 12

User Rating: / 0
PoorBest 

                                                          GV:Lâm Thị Thanh Thuỷ

I MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC HỘI THẢO:
- Nhận xét, đánh giá về chương trình và sách giáo khoa 12 ban cơ bản
( nêu được một số ưu điểm, hạn chế, và góp ý chỉnh sửa nếu có)
- Chia sẻ những thuận lợi và khó khăn cùng đồng nghịêp trong quá trình giảng dạy chương trình 12 ban cơ bản
-Trao đổi một số kinh nghiệm về công tác giảng dạy như việc sử dụng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại, đồ dùng hỗ trợ dạy học, phương pháp dạy, kỹ thuật dạy các kỹ năng ngôn ngữ ( nghe, nói, đọc, viết, ngữ pháp. . . ) để vừa linh hoạt với nội dung tiết dạy, vừa phù hợp với đối tượng học sinh.


II. NỘI DUNG THẢO LUẬN :
1 Chương trình: So với chương trình nâng cao, chương trình chuẩn có khối lượng kiến thức và yêu cầu về kỹ năng thấp hơn ( khoảng 25-30%). Điều đó thể hiện ở độ dài vừa phải của các bài đọc và bài nghe, độ  khó không cao lắm về mặt cấu trúc, kiến thức hay trọng tâm ngôn ngữ và số lượng từ vựng cũng như  một số tiểu kỹ năng khác, đặc biệt là các kỹ năng sản sinh lời nói như Viết và Nói. Bên cạnh sự khác biệt về khối lượng kiến thức ngôn ngữ và kỹ năng đó, cách triển khai các hoạt động học tập ở lớp, cách thức khai thác SGK, yêu cầu đối với học sinh, cũng như vai trò của thầy và  trò  trong lớp cũng cần có sự khác biệt về chất.
Một số những ưu điểm của chương trình:
+ Chương trình đã bám sát được các yêu cầu về mục tiêu , nhiệm vụ môn học. Lựa chọn và sắp xếp các nội dung lô rích trong văn bản chương trình.
+ Điểm thể hiện nổi bật là chương trình đã tăng thời lượng cho các hoạt động thực hành, hoạt động tích cực và chủ động cho các HS.
+ Phần ngữ âm học được khai thác lần đầu tiên đối với chương trình mới.
+ Các nội dung lý thuyết được cân nhắc lựa chọn khá  kĩ càng và đề ra yêu cầu thực hiện phù hợp với mức độ nhận thức nói chung của HS.
+ Đảm bảo tính thực tiễn qua việc tăng cường tích hợp, liên hệ nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống, địa phương, các vùng miền, đất nước, hoặc đưa vào bài học các thông tin kinh tế xã hội một cách cập nhật.
+ Chương trình đã định hướng được phương pháp dạy học tích cực :
* Lấy người học làm trung tâm, phát huy đến mức tối đa tính tích cực chủ động trong học tập của HS và đặc biệt phát triển kĩ năng giao tiếp ; xem các kiến thức ngôn ngữ là phương tiện chứ không phải là đích cuối cùng của quá trình học tập.
*Đường hướng thực hành giao tiếp, chú trọng phát triển các kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết). Như vậy người thầy ở đây ngoài vai trò truyền thụ còn có vai trò là người giúp đỡ, người cố vấn, người nêu vấn đề, người tham gia vào quá trình học tập của người học.
-1-
 + Chương trình đầy đủ và súc tích , đảm bảo cho việc quản lý quá trình dạy và học kiểm tra kiến thức ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp, đánh giá kết quả học tập và chất lượng giáng dạy bộ môn.
Một vài hạn chế của chương trình :
 + Vài bài đọc dài, nhiều từ mới gây khó khăn cho GV và HS thực hiện đầy đủ các mục tiêu trong một tiết dạy.( ví dụ: Unit 6, Unit 8, Unit 14 . . . )
 + Các nội dung chủ điểm về hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động thể thao đã biên soạn khá nhiều ở SGK 10, 11 nên chăng bớt ở chương trình 12  (Unit 12, Unit 13)
2 Sách Giáo khoa.
  Một số ưu điểm của SGK:
+ Bám sát chương trình môn học và nhất quán với quan điểm biên soạn chung của chương trình bộ môn là chú trọng phát triển các kĩ năng ngôn ngữ.
+ Các nhiệm vụ học tập trong sách cụ thể và đa dạng về loại hình, phong phú về từ vựng  và chủ điểm quen thuộc. Đặc biệt sách giáo khoa 12 cơ bản lại bảo đảm một chủ đề xuyên suốt toàn bộ một đơn vị bài học .
+ Đảm bảo tính kế thừa của SGK 10, 11
+ Sách được trình bày rõ ràng, sạch đẹp, khá chi tiết và có nhiều tranh ảnh minh hoạ, màu sắc bắt mắt, cuốn hút được sự chú ý của HS.
+ Ngữ âm và ngữ điệu là một bộ phận cấu thành quan trọng của SGK.
+ Nêu bật từng kỹ năng và nội dung cần truyền đạt từng bước tiếp cận bài học được trình bày khá chi tiết.
+ Kiến thức về các chủ điểm lời nói rất gần gũi với HS ( Gia đình, văn hoá, giáo
dục, . . . ) nên HS có thể lĩnh hội được và có sự liên hệ sát với thực tế cuộc sống.
+ Các loại hình bài tập có tần số sử dụng cao và lặp lại có mở rộng theo hình thức vòng đồng tâm.
 + Thiết kế mỗi đơn vị bài học hài hoà, vừa sức nên HS dễ tiếp thu bài học hiểu được mục đích, yêu cầu và hào hứng học tập.
+ Mỗi đơn vị bài học đều nêu rõ yêu cầu cụ thể ( pair work- group work ) tạo cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, HS khá giỏi có cơ hội giúp HS yếu. Ngược lại HS yếu tự tin phát biểu, hoặc bày tỏ ý kiến của mình.
+ Kết hợp hài hoà giữa phần nội dung ngôn ngữ và các kỹ năng tạo điều kiện cho GV định hình được thủ thuật dạy, sách sử dụng do dùng dạy học, tranh ảnh phù hợp với tầng kỹ năng, giúp HS học tập sáng tạo và tự giải quyết vấn đề dễ dàng hơn.
+ Hướng dẫn cho từng hoạt động rất rõ ràng. Các hoạt động dược sắp xếp phù hợp và cân đối giúp thầy và trò thực hiện đày đủ các mục tiêu của bài học.
Một vài hạn chế
+ Số lượng đơn vị bài học hơi nhiều. Nên bỏ bớt bài cuối, thêm phần củng cố cho  HS cuối cấp.
+ Tranh giới thiệu ở Unit 7 chưa phù hợp và nội dung bài học này hơi khó nên đưa vào khai thác ở chương trình 12 nâng cao.
-2-
3. Một vài gợi ý về việc đổi mới phương pháp giảng dạy SGK 12 chương trình chuẩn.
 *Một số gợi ý về giải pháp khắc khục khó khăn tồn tại
Như chúng ta đã biết, chương trình tiếng Anh 12 nói chung, các phương pháp dạy học theo định hướng giao tiếp được sử dụng để luyện tập các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; còn việc cung cấp kiến thức về ngôn ngữ (từ ngữ, ngữ pháp, phát âm) và kiến thức về đất nước học dược xem như phương tiện bổ trợ cho việc hình thành các kỹ năng giao tiếp của học sinh. Vì vậy trong quá trình dạy học, giáo viên là người tạo điều kiện và giúp dỡ cho các hoạt động học tập của học sinh theo những định hướng mang tính giao tiếp sau đây:
 + Tạo điều kiện hướng dẫn và khuyến khích học sinh chủ động diễn đạt ý tưởng của mình bằng tiếng Anh trong nhiều tình huống giao tiếp khác nhau mà không sợ mắc lỗi vì đó là một việc đương nhiên, bình thường  trong khi học ngoại ngữ.
 + Học sinh luyện đ ọc lập theo cặp hoặc nhóm do giáo viên tổ chức có hướng dẫn chung.
 + Khi tập trong nhóm, học sinh sẽ tự đưa ra các quyết định (decision), giả  thuyết (hypothesis), thương lượng( negotiation) về các ý tưởng của mình và giải quyết các vấn đề được đặt ra.
 +Nội dung học và các hoạt động học tập cần mang tính đích thực (authenticity) phản ánh được các nhu cầu thực tế.
 + Các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ được tích hợp (intergrated) trong quá trình dạy và học. Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ như từ ngữ về ngữ pháp được xem như đầu vào ( input) nhằm giúp học sinh có thể giao tiếp một cách có hiệu quả, và sau đó sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp đích thực đầu  ra (output).
 + Giáo viên cần linh động thay đổi phần giới thiệu và tổ chức, hướng dẫn thực hiện bài học cho phù hợp với trình bộ và nhu cầu thực tế của học sinh. Tuỳ vào từng thời điểm nhất định mà trọng tâm dạy có thể tập trung vào các bài tập phát triển khả năng giao tiếp trôi chảy ( fluency)hoặc các bài  tập phát triển khả năng giao tiếp chính xác( accuracy)
 + Các hoạt động học tập và thực hành tương tác ( interaction) cần được tổ chức có hệ thống từ kiểm soát chặt chẽ đến ít kiểm soát hơn và sau cùng là tự do.
 + Trong khi tổ chức thực hành các bài tập, cần khuyến khích học sinh chọn lựa và sử dụng ngữ liệu đã học thích hợp với mục đích giao tiếp của bài tập.
 + Việc chọn lựa các bài tập cần căn cứ vào hứng thú kiến thức nền và trình độ ngôn ngữ cụ thể của học sinh trong lớp.
 Nhằm khắc phục được một số khó khăn về chương trình và sách giáo khoa, giáo viên có thể sử dụng một số kỹ thuật  ( technique) và chiến lược (strategy) làm cho nội dung chủ điểm trở nên dễ hiểu với học sinh qua bốn loại kỹ thuật chung  theo định hướng của phương pháp giao tiếp như sau:
-3-
1 . Điều chỉnh đầu vào ( modifying input): Do học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu nội dung các thông tin theo chủ điểm giáo viên có thể tự điều chỉnh việc dạy của mình cho phù hợp với khả năng và trình độ học sinh trong lớp bằng cách:
 + Nói chậm lại nhưng vẫn giữ mức độ tự nhiên.
 + Phát âm rõ ràng
 + Kiểm soát từ ngữ qua việc ít dùng những thành ngữ ban đầu.
2. Sử dụng gợi ý theo ngữ cảnh (using contextual clue): Giáo viên cần cung cấp cho học sinh các gợi ý được ngữ cảnh hoá để giúp học sinh hiểu được ngữ nghĩa ngoài việc đọc văn bản hay nghe lời nói. Sau dây là một số gợi ý:
 + Dùng giáo cụ trực quan ( visual) trong đó có tranh ảnh (picture), hình chụp (photograph), phim miếng (slide), bản đồ (map), đồ thị (graph), sơ đồ ( diagram), giáo án điện tử, máy vi tính, máy cát sét.
 + Dùng các ngân hàng từ (word bank) các đồ thị liên kết các từ ngữ với các ký hiệu tương ứng.
 + Xây dựng thói quen trong lớp để học sinh có thể đoán trước các hoạt động học tập như khi nào bắt đầu hay kết thúc các bài tập thực hành ngôn ngữ, hướng dẫn cho làm bài ở nhà, v.v. Đôi khi theo thói quen, học sinh có thể đoán hiểu được thông tin của giáo viên từ những tình huống đã được ngữ cảnh hoá, dù không hiểu trọn vẹn lời hướng dẫn bằng tiếng Anh của giáo viên.
 + Củng cố bài học qua việc lặp đi lặp lại, nói lại một cách khác (restatement) và cho ví dụ.
3. Kiểm tra mức độ hiểu ( checking for understanding)): Để kiểm tra xem có hiểu được nội dung giao tiếp cũng như ngôn ngữ hướng dần và các khái niệm đã học được hay không, giáo viên có thể cho học sinh làm các dạng bài tập như sau:
 -> Bài tập phán đoán thông tin đúng sai.
 -> Bài tập nêu ví dụ.
 -> Bài tập diễn giải các từ ngữ quan trọng trong bài bằng ngôn ngữ của chính mình.
 -> Bài tập yêu cầu tóm tắt lại các thông tin quan trọng.
 -> Bài tập trả lời các câu hỏi. .
4. Thiết kế bài dạy phù hợp với trình độ của học sinh.
 Phần này rất quan trọng, bởi nó giải quyết được vấn đề rất cơ bản về sự quá tải của nội dung chương trình SGK, và một số bài tập thực hành khó đối với học sinh. Tuy vậy, để việc dạy có kết quả, giáo viên cần chú ý đến sự tiến bộ của học sinh vá từ đó đề ra những biện pháp vừa sức để học sinh thực hiện mục tiêu bài học; cho thêm một số bài tập và hoạt động khác nhau dễ hiểu hơn thay thế lượt số bài tập quá khó mà chưa làm nổi bật dược yêu cầu của bài học.
Ngoài ra trong khi chuẩn bị bài dạy, giáo viên cần lưu ý các vấn đề sau đây:
Dạy từ: Giáo viên có thể soạn thêm các bài luyện về từ vì học sinh thường gặp khó khăn trong việc hiểu các từ cơ bản hoặc các thuật ngữ cần thiết trong khi đọc hướng dẫn làm bài tập liên quan đến nhiều loại văn bản khác nhau khi khai thác chủ điểm
-4-
Mục tiêu ưu tiên: Giáo viên cần quyết định xem những điểm nào, khái niệm nào chưa được tập trung trong bài học, vì với số tiết chỉ định cho từng bài học giáo viên khó có thể dạy kỹ hết được ngữ liệu trong mỗi bài học.
Xây dựng hệ thống các hoạt động trong lớp : ôn lại ngữ liệu cũ, liên hệ các ý tưởng trong bài học với kinh nghiệm riêng của học sinh dùng phương pháp động não tìm ý hay các hoạt động liên hoàn( cluster activity) để giúp học sinh hiểu được nội dung thông tin trong chủ điểm.
Tổ chức học sinh : học sinh được tổ chức thực hiện theo nhóm đôi,  theo nhóm  nhỏ hay theo nhóm học tập được cơ cấu để có tính thần hợp tác và gia tăng sự tương tác trong nhóm.
*Một số đề xuất kiến nghị:
Qua quá trình thực hiện việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa, cùng với những nổ lực của toàn thể giáo viên tổ Ngoại ngữ trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học, chúng tôi nhất trí đưa ra một số đề nghị như sau:
 + Phân phối chương trình nên hợp lý hơn . Mỗi bài học nên có một tiết mềm linh động để giáo viên có điều kịch bổ sung những điều chưa thực hiện dược trong bài học.
 + Bài luyện đọc không nên soạn quá dài và có nhiều từ mới, vì sẽ gây khó khăn cho giáo viên khi dạy từ theo kĩ năng tổng hợp.
 + Phần viết nên tập trung vào phần luyện kĩ năng "For and Against" sát với chủ đề trong bài đọc để học sinh phát triển khả năng phân tích cũng như đóng góp phát biểu ý kiến.
 + Phần luyện nói: các hoạt động có kiểm soát nên hạn chế các bớt tăng các hoạt động nói tự do để học sinh có điều kiện phát triển tính sáng tạo, tính linh hoạt trong khi sử dụng ngôn ngữ.
 + Phần luyện nghe : Nên đưa vào thêm một số bài thơ hay bài hát thông dụng gần gũi với chủ đề để tạo môi trường sinh ngữ để học sinh thêm hào hứng học tập.
 + Các loại băng, đĩa nghe - nhìn phải được cung cấp kịp thời và có chất lượng cao.
III. KẾT LUẬN
Trên đây là một số những vấn đề về ưu điểm, khó khăn và một số những kinh nghiệm, giải pháp khắc phục đối với  nội dung chương trình sách giáo khoa 12 Tiếng Anh chuẩn mà trong quá trình giảng dạy chúng tôi đã nhận ra và đúc rút được. Xin được trình bày chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp. Các cơ sở lý luận về thực tiễn được trình bày trong văn bản này đều là ý kiến riêng của chúng tôi.

  

 

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn thuộc nhóm bạn đọc nào dưới đây
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm