HS: 12VĂN
I.Ưu điểm
- Chương trình có sự phân bố hợp lí, khoa hoc theo từng giai đoạn văn học, từng thể loại văn học.
VD: Các tác phẩm được học trong chương trình đi từ văn học Việt Nam từ cách mạng tháng 8 – 1945 đến hết TK XX. Các tác phẩm được sắp xếp theo từng thể loại như thơ, tuỳ bút, truyện, văn chính luận...
Chương trình có số tiết khá hợp lí (4 tiết chương trình chính và 2 tiết tự chọn) vừa giúp học sinh có thể tiếp nhận kiến thức phổ thông vùa tạo điều kiện cho học sinh củng cố, nâng cao kiến thức.
VD: Sau khi học một số tác phẩm văn học kháng chiến như Những đứa con trong gia đình, Rừng xà nu, Vợ nhặt... học sinh được học chuyên đề Vẻ đẹp văn xuôi kháng chiến, vì vậy hoc sinh vừa củng cố được kiến thức vừa có điều kiện so sánh, đánh giá những điểm chung và riêng của từng tác phẩm giai đoạn này.
Sau khi học một số tác phẩm sau 1975, học sinh được học chuyên đề Tìm hiểu thêm một số sáng tác nổi bật sau 1975, học sinh nắm được các kiến thức giai đoạn văn học này sâu sắc hơn.
- Các tác phẩm được đưa rất đặc sắc, phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh.
VD: Thơ: Tây tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu), Đất nước (Trích Trương ca mặt đường khát vọng-Nguyễn Khoa Điềm)...
Tuỳ bút: Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Truyện: Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Vợ nhặt (Kim Lân)...
- Có những tác phẩm văn học nước ngoài được đưa ra rất hay, phù hợp với tâm lí, trình độ tiếp nhận của học sinh. Các đoạn trích được lược bỏ, nhấn mạnh một cách phù hợp, không gây khó khăn cho việc tìm hiểu.VD: Số phận một con người (Sô-lô-khốp), Ông già và biển cả (Hê-minh-uê), Thuốc (Lỗ Tấn).
- Nhiều bài học về ngữ pháp tiếng Việt rèn luyện kĩ năng viết bài được đưa ra giúp cho học sinh có điều kiện nâng cao khả năng tư duy và rèn luyện được kĩ năng viết và phát triển năng khiếu văn học.
VD: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Luật thơ, Luyện tập về cách dùng biện pháp tu từ ẩn dụ, uyện tập về cách tránh hiện tượng trùng nghĩa, Luyện tập về cách sửa chữa văn bản, Luyện tập về cách dùng một số quan hệ từ, Luyện tập về cách tránh lỗi diễn đạt...
- Chương trình có nhiều bài học lam văn về nghị luận – thể loại cần thiết, thiết thực cho cuộc sống sau này.
VD: Nghị luận XH và nghị luận văn học, Nghị luận về một bài thơ đoạn thơ, Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận, nghị luận về một tư tưởng đạo lí, nghị luận về một hiện tượng đời sống...
- Chương trình có nhiều tiết học giúp học sinh phát huy được kĩ năng trình bày, diễn thuyết, phát huy được tính năng động, tích cực trong học tập.
VD: Luyện tập phát biểu theo chủ đề và phát biểu tự do, Xây dựng đề cương diễn thuyết, Phong cách ngôn ngữ hành chính...
- Phần tri thức đọc – hiểu có nội dung phong phú, cụ thể, giúp học sinh hiểu sâu hơn những kiến thức văn học.
VD: Phần tri thức đọc – hiểu về thơ tự do, tuỳ bút...
II.Một số hạn chế.
- Một số bài phân bố tiết chưa được hợp lí, quá tải với khả năng tiếp nhận của học sinh.
VD: 3 bài Tây Tiến (Quang Dũng), Bên kia sông Đưống (Hoàng Cầm), Dọn về làng (Nông Quốc Chấn) chỉ được học trong 2 tiết
3 bài Mấy ý nghĩ về thơ (Nguyễn Đình Thi), Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng (Nguyễn Đăng Mạnh), Đô-xtôi-ép-xki (Xvai-gơ) chỉ được học trong 1 tiết.
- Chương trình có một số bài quá khó, có nội dung không gây hứng thú tìm đối với học sinh. VD: Đàn ghi-ta của Lor-ca, Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại, Tư duy hệ thống- nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy.
- Một số câu hỏi ở phần bài tập nâng cao quá khó.
- SGK có sự trình bày chưa hấp dẫn, giấy xấu hơn những SGK khác.


















