Theo kế hoạch, năm 2008- 2009 là năm phủ kín toàn bộ sách giáo khoa các cấp học, bởi vậy nên có một cuộc nhìn nhận lại về mặt được, mặt yếu, mặt cần khắc phục của bộ sách giáo khoa đang áp dụng hiện nay. Chương trình- SGK Ngữ văn 12 được chính thức đưa vào dạy và học ở trường THPT năm 2008-2009. Là giáo viên dạy môn Ngữ văn, vừa dạy vừa thẩm thấu CT- SGK Ngữ văn, tôi nhận thấy CT- SGK Ngữ văn 12 có rất nhiều ưu điểm nhưng cũng có một số chỗ chưa thật hợp lí, một số chỗ hạn chế có thể khắc phục.
Chúng tôi mong muốn qua Hội thảo khoa học của nhà trường, qua Hội đồng khoa học của các cấp có một tiếng nói nhằm góp phần làm cho CT- SGK ngày càng hoàn thiện hơn, hướng tới chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao. Qua gần một năm dạy theo CT- SGK Ngữ văn 12 Bộ Nâng cao, tôi xin có một vài ý kiến đóng góp về CT- SGK như sau:
1. Về chương trình
* Ưu điểm: nhìn chung chương trình phân bố hợp lí:
- Ngữ văn 12 nâng cao có 4 tiết/ tuần, thêm 1 tiết chuyên đề thành 5 tiết/ tuần. Xen kẽ trong tuần học là các phân môn LV, TV, Văn. Xoay quanh 2 trục Đọc văn và Làm văn theo tinh thần tích hợp. Các văn bản đọc-hiểu được xếp theo tiến trình lịch sử và cụm thể loại giúp HS nắm vững hơn quá trình văn học và hiểu sâu đặc trưng thể loại.
- Chương trình coi trọng tính chất công cụ của môn Ngữ văn nhằm đào tạo cho học sinh năng lực sử dụng tương đối thành thạo công cụ Ngữ văn: nghe, nói, đọc, viết- những kĩ năng cần thiết đối với người lao động trong xã hội.
- Ngoài các văn bản văn học tiêu biểu được chọn lọc còn chọn thêm các văn bản nghị luận, chính luận, vừa trang bị kiến thức văn hóa, còn cung cấp tài liệu để tích hợp với dạy học làm văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
- Phần Làm văn gắn với phần Đọc văn và Tiếng Việt, ngoài văn nghị luận, học sinh còn học các văn bản thông dụng trong đời sống. Phần Làm văn coi trọng hoạt động thực hành, xây dựng hệ thống bài tập.
* Hạn chế:
- Một số bài học phân bố thời gian chưa hợp lí.
( Đọc hiểu Tuyên ngôn độc lập chỉ học trong 1 tiết; đọc hiểu Tây Tiến, Tiếng hát con tàu, Đàn ghi ta của Lor- ca chỉ dành thời lượng 1,5 tiết bởi vì có kèm theo bài đọc thêm, bài Tổng kết phần Tiếng Việt học trong 1 tiết, trong khi Tổng kết phần Làm văn ngắn gọn hơn lại học trong 2 tiết)
- Số lượng bài đọc thêm trong chương trình nhiều, phân bố dồn dập liên tiếp nhau lại học trong thời gian ngắn nên giảm khả năng cảm thụ tác phẩm của học sinh.
( Đọc thêm các văn bản: một số văn bản đọc thêm có dung lượng lớn, hay lại chỉ được đọc thêm trong thời lượng 10 đến 15 phút như: Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Tự do của Ê-luy-a).
- CT phân bố theo cụm thể loại văn học NL, HS liên tiếp đọc hiểu một số loạt văn bản mới và khó, vì thế dễ gây cảm giác khô khan, quá tải, khó tiếp nhận...
( Các văn bản: Mấy ý nghĩ về thơ, Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, Đô-x tôi-ép-xki, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Tư duy hệ thống- nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy... ).
2. Về sách giáo khoa
* Ưu điểm:
- SGK bám sát chương trình môn học.
- SGK tổ chức theo trục lịch sử văn học, sắp xếp theo trật tự truyền thống. Toàn bộ các tác phẩm, đoạn trích đều đặt đúng vào khung lịch sử của nó. Văn học nước ngoài để xen với Văn học Việt Nam tương ứng với thể loại.
- Trong từng giai đoạn văn học thì tác phẩm, đoạn trích lại sắp xếp theo cụm thể loại nhằm tạo thuận lợi cho việc hình thành kĩ năng đọc văn theo thể loại.
VD: Cụm văn nghị luận: gồm Tuyên ngôn độc lập, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Mấy ý nghĩ về thơ, Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, Đô-x tôi-ép-xki
Cụm thơ: Tây Tiến, Việt Bắc, Tiếng hát con tàu, Đất nước, Sóng, Đàn ghi ta của Lor-ca, đọc thêm 6 bài: Bên kia sông Đuống, Dọn về làng, Bác ơi!, Đất nước, Đò Lèn, Tự do
Cụm kí: gồm 2 bài: Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông. Đọc thêm: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới.
Cụm văn nhật dụng: gồm 4 văn bản: Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1/12/2003.
Cụm truyện:
- SGK Ngữ văn 12 thực hiện được nguyên tắc tích hợp. Chú ý cả tích hợp ngang ( môn Ngữ văn từ 3 phân môn: Văn- Tiếng việt- Làm văn được kết hợp và trình bày trong một cuốn sách) và tích hợp dọc.
VD: Các thể loại tác phẩm văn học trong phần Đọc văn sau bài Khái quát văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX lần lượt là nghị luận, thơ, kí, kịch, văn nhật dụng, truyện, tiểu thuyết. Trong mỗi thể loại lớn kết hợp luôn cả phần văn học nước ngoài. Chẳng hạn khi học văn nghị luận VN thì giới thiệu luôn bài nghị luận của Xvai-gơ về Đo-x tôi-ép-xki, hoặc khi học thơ Vn thì giới thiệu bài Tự do của Ê-luy-a.... Tương ứng với phần Văn học, nội dung làm văn được biên soạn theo yêu cầu tích hợp một cách hợp lí. Chẳng hạn khi học các tác phẩm nghị luận ở phần Văn học thì phần Làm văn giới thiệu các loại văn nghị luận, luyện tập tóm tắt văn nghị luận, phần Văn học giới thiệu các tác phẩm truyện thì Làm văn luyện tập và viết bài về tác phẩm văn xuôi hoặc bài nghị luận xã hội về một vấn đề trong tác phẩm văn học.
Ngoài ra, còn tích hợp được các kiến thức chứa đựng những vấn đề đang được quan tâm,có ý nghĩa thời sự, bức thiết đối với thời đại như vấn đề môi trường, bệnh dịch thế kỉ, vấn đề văn hóa dân tộc, đổi mới tư duy .... Tích hợp vừa giúp HS liên kết bài học, củng cố bài học, đi sâu vào văn bản tác phẩm lại vừa có khả năng ứng dụng để thực hành.
- Cách trình bày khoa học, lôgic, dễ hiểu, sắp xếp theo trình tự nhất định ( về lịch sử văn học, về thể loại, về tác gia...) thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học. Kết cấu, bố cục từng phần, từng bài dạy thích hợp với đối tuợng, phù hợp với đặc trưng bộ môn, thể hiện rõ sự hỗ trợ cho đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện để học sinh nâng cao năng lực tự học và giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tổ chức, hướng dẫn học sinh chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong quá trình tìm hiểu , tiếp nhận tri thức.
- Văn bản được chọn đưa vào SGK là những văn bản hay, có tính mẫu mực. Đồng thời, các tác giả biên soạn sách đã chú trọng đến tính nhật dụng trong tuyển chọn văn bản văn học và dữ kiện đời sống trong phần Tiếng việt và Làm văn. Vì thế, SGK Ngữ văn gắn với đời sống hơn.
Ví dụ: Những văn bản nhật dụng được đưa vào phần Đọc- hiểu, TViệt, Làm văn: Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Tư duy hệ thống- nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 ...).
Đặc biệt trong các phần luyện tập, thực hành Làm văn và Tiếng việt đều hướng vào tính nhật dụng như viết văn bản tổng kết, xây dựng đề cương diễn thuyết, viết biên bản, đơn từ...
Như vậy, nội dung của SGK được gắn với thực tiễn cuộc sống, việc học môn Ngữ văn trong nhà trường thật sự có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống của các em sau này.
- Tỉ lệ hoạt động thực hành ở phần Tiếng việt và Làm văn trong sách Ngữ văn 11 rất cao, tăng cường tính thực hành kích thích được khả năng tự học của học sinh. -> Học sinh có thể nâng cao năng lực, kĩ năng thực hành và ứng dụng trong giao tiếp, cuộc sống. Các dạng đề nghị luận xã hội là những loại bài gắn chặt với đời sống nhất, có tác dụng giáo dục nhân cách học sinh nhiều nhất. Bởi không có HS nào hằng ngày lại không tiếp xúc với các sự kiện, con người, sự việc... và điều quan trọng là trước các sự việc, hiện tượng đó HS có suy nghĩ và tinh thần, thái độ như thế nào?
* Hạn chế:
- Hình thức in ấn chưa đẹp, thiếu màu sắc, thiếu hình ảnh minh hoạ cho bài học để gây hứng thú và để dễ cảm nhận bài học ở mức độ nhất định.
- SGK Ngữ văn nặng và dàn trải theo chiều rộng mà chưa chú trọng chiều sâu. Học sinh phải học dàn trải ra quá nhiều bài, tác phẩm, tác giả... mà lại học không được kĩ, nên dễ rơi vào cảnh " cưỡi ngựa xem hoa".
- Chương trình SGK Ngữ văn 11 có sự dồn nén của nhiều thể loại mới, khó ( các thể loại của văn học cổ, văn học trung đại), nhiều bài học mới được đưa vào mang tính hàn lâm so với lứa tuổi và trình độ tiếp nhận của học sinh ( VD: Văn bản : Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Tư duy hệ thống- nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 , Đàn ghi ta của Lor-ca, Đò Lèn, Tự do, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Những ngày đầu của nước Việt Nam mới, Chiếc thuyền ngoài xa...). Chính vì thế, khi tiếp nhận, thẩm thấu những văn bản này, các em có tâm lí chưa tích cực chủ động.
- Những văn bản đưa vào chương trình đa số là những văn bản hay, có tính mẫu mực song có nhiều văn bản thiên về tính chất nghị luận xã hội, chính trị, lịch sử, chưa thật sự mang tính văn chương ( Ví dụ: văn bản Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Tư duy hệ thống- nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 ).
- Những bài tập sau phần luyện tập, Bài tập nâng cao của những bài đọc văn khó, quá sức đối với học sinh. Nhiều bài học viết sơ lược, chung chung nên việc tiếp nhận bài học có những khó khăn ( Các bài tổng kết, ôn tập, các văn bản đọc thêm...).
3. Kiến nghị:
- Chương trình phân phối thời gian cho các bài học hợp lí hơn.
- SGK trình bày về hình thức nên đẹp hơn, nghệ thuật hơn.
- Nhiều bài học mang tính chất chính trị, lịch sử khó hiểu nên được thay bằng các tác phẩm văn chương mang tính nghệ thuật cao. Có thể giảm tải bằng việc đưa thêm một số thể loại và bài học vào phần đọc thêm không bắt buộc.
- Tăng thời gian cho các bài đọc hiểu văn bản hay và khó, các bài đọc thêm. Phần đọc thêm cần có phần Kết quả cần đạt và Ghi nhớ để học sinh có định hướng tìm hiểu.
- Tăng cường đồ dùng dạy học, cơ sở vật chất máy móc công nghệ thông tin vừa để đổi mới phương pháp vừa để giảm tải cho việc dạy- học, các phương tiện trực quan để tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình tiếp nhận văn bản tác phẩm.


















