Home Nghiên cứu khoa học MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 12 CHUẨN

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 12 CHUẨN

User Rating: / 0
PoorBest 

                  Giáo viên: Nguyễn Thị Tuyết Hạnh
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Năm học 2008- 2009, trường THPT Chuyên tiếp tục  dạy theo chương trình và SGK mới của Bộ GD ở lớp 12. Là giáo viên dạy môn Ngữ văn, vừa dạy vừa thẩm thấu CT- SGK, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều ưu điểm, nhưng cũng có một số hạn chế cần khắc phục. Với bài tham luận này, một mặt tôi muốn rút ra những kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình dạy học, mặt khác mong muốn được sẻ chia với đồng nghiệp để tìm kiếm những giải pháp dạy học tốt nhất. 


Tiếp nhận cái mới bao giờ cũng gặp nhiều khó khăn cả về văn bản, chương trình, phương pháp. Qua gần một năm dạy học, chúng tôi nhận thấy những điểm ưu việt đáng kể của bộ sách và chương trình 12 chuẩn so với các bộ sách mới của 10 và 11. Có thể nói rằng, đây là tâm huyết và sự nỗ lực hết mình của đội ngũ các tác giả soạn sách trong việc chọn văn bản hay, phù hợp tầm nhận thức và lứa tuổi học sinh, đồng thời chủ trương giảm tải cũng được thực hiện triệt để. Thực tiễn dạy học của giáo viên và học sinh trong năm học đã có những biểu hiện tích cực trong việc tiếp thu và lĩnh hội kiến thức cũng như tâm thế hứng thú với bộ môn.
Dưới đây, chúng tôi xin trình bày vài ý kiến cụ thể của mình về chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 12 bộ chuẩn. Hi vọng rằng, nó sẽ góp một tiếng nói nhỏ trong việc xây dựng chiến lược và phương pháp dạy học hiệu quả của nhà trường. Hơn nữa, nó còn giúp tôi và đồng nghiệp có cái nhìn bao quát hơn về SGK nhằm tìm ra những giải pháp để nâng cao chất lượng và tự khắc phục những khó khăn trong quá trình dạy học
B. NỘI DUNG
I. VỀ CHƯƠNG TRÌNH
1. ƯU ĐIỂM
- Nhìn chung, chương trình được phân phối khoa học, hợp lí, phù hợp thực  tế giảng dạy bởi có sự đan xen và tích hợp các phân môn, có thể phát triển được kỹ năng vận dụng, thực hành của học sinh (3 tiết/ tuần). Xen kẽ trong tuần học là các phân môn LV, TV, Văn. Chương trình xoay quanh 2 trục Đọc văn và Làm văn theo tinh thần tích hợp.
- Xếp bài theo tiến trình lịch sử và theo cụm thể loại nên HS nắm vững hơn quá trình VH và hiểu sâu đặc trưng thể loại,  thống nhất với tinh thần chung của sách giáo khoa.
- Hài hòa giữa NLVH và NLXH nhằm rèn luyện hợp lí các kỹ năng của học sinh . Đặc biệt, chương trình đã triển khai nhiều kiểu bài của nghị luận văn học giúp học sinh thành thạo và chủ động hơn trong làm các bài viết, phục vụ hiệu quả cho các kì thi.
 - Các văn bản đọc hiểu phong phú: văn bản nghệ thuật (thơ- văn xuôi- kịch ), văn bản nghị luận về nhiều vấn đề văn học và đời sống. Điều này góp phần đắc lực trong việc giáo dục cho học sinh tri thức tổng hợp, tòan diện.
- Có tính hiện đại và cập nhật khi đưa vào các đơn vị kiến thức như: thơ hai cư, viết quảng cáo...
- Các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng đa số phù hợp trình độ nhận thức và tình cảm của học sinh.
- Thể hiện được định hướng đổi mới phương pháp dạy học- tích hợp kiến thức giữa các phân môn, kiến thức trong văn bản và kiến thức đời sống.

2. HẠN CHẾ:
-  Một số bài học phân bố thời gian chưa hợp lí.
Hai bài đọc thêm khó và dài lại học trong 1 tiết: Mấy ý nghĩ về thơ và  Đôxtôiepxki; Đò Lèn và Bác ơi, Dọn về làng và Tiếng  hát con tàu
- CT giới thiệu, tuyển chọn đọc hiểu một số văn bản mới và khó đối với học sinh  Đàn ghi ta của Lorca, Tự do
- Nhiều văn bản hay lại chuyển sang đọc thêm: Tiếng hát con tàu, Đất nước của NĐT
II. VỀ SÁCH GIÁO KHOA
a. Ưu điểm:
- Bám sát chương trình. Đảm bảo nguyên tắc tích hợp, giúp học sinh liên kết bài học và rèn kỹ năng thực hành: tích hợp ngang giữa ba phân môn, tích hợp dọc liên thông văn bản từ THCS.
 - Phần ghi nhớ giúp HS định vị và khắc sâu kiến thức trọng tâm
- Hệ thống tri thức được tổ chức và trình bày ở bộ sách chuẩn khá ưu việt bởi lối tư duy mạch lạc và kết cấu sáng rõ. Kết cấu bài học tương đối hợp lí, tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh đổi mới phương pháp dạy và học.
Tập thể tác giả sách giáo khoa đã đầu tư công sức, tâm huyết rất công phu trong việc tuyển chọn và biên soạn sách. Sách giáo khoa có tính khoa học, lôgic, theo trình tự nhất định (về lịch sử văn học, về thể loại, về tác gia).
-  Các văn bản được chọn trong SGK khá tiêu biểu, bao quát được nhiều kiểu văn bản: chính luận (Tuyên ngôn độc lập), nghệ thuật, nhật dụng (Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS), phê bình văn học  (Mấy ý nghĩ về thơ), chân dung văn học( Đôxtôiepxki), lí luận văn học (Quá trình văn học và phong cách văn học) và được phân bố đều ở các giai đoạn.
-  Nguyên tắc tích hợp là một yêu cầu hàng đầu được các tác giả biên soạn sách rất chú trọng. Tích hợp vừa giúp cho HS liên kết bài học, củng cố bài học, đi sâu vào văn bản tác phẩm lại vừa có khả năng ứng dụng để thực hành.
Ví dụ: Bài làm văn: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ học gần kề bài thơ Tây Tiến
 - Hệ thống bài tập củng cố kiến thức cần thiết, phát huy tính tích cực, độc lập và sáng tạo trong suy nghĩ của HS. Bài học trong sách thiên về luyện tập hướng HS thực hành. Đặc biệt là kỹ năng ứng dụng bài học của HS vào cuộc sống.
Vd: Bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc => Bài tập: trình bày suy nghĩ, quan điểm về các truyền thống tốt đẹp của dân tộc hoặc các hũ tục cần bài trừ.
b. Hạn chế:
+ Hình thức in ấn chưa đẹp, thiếu màu sắc, thiếu hình ảnh minh hoạ nhằm tạo sự hứng thú và hỗ trợ sự cảm nhận văn bản.
+ Nhiều bài lí luận văn học kiến thức phức tạp, quá sức đối với học sinh. Điều đó gây khó khăn cho các em trong việc tiếp nhận. Chẳng hạn bài: Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi đề cập rất nhiều quan niệm về đặc trưng của thơ khá trừu tượng. Bài Quá trình văn học và phong cách văn học lượng thuật ngữ nhiều, chưa trình bày một cách sáng rõ và dễ hiểu.
+ Nhiều bài học mới được đưa vào mang tính cách tân cao, văn phong ảnh hưởng đậm từ văn học phương Tây như Đàn ghi ta của Lorca, Tự do...Chính vì thế khi tiếp nhận, thẩm thấu những văn bản này các em có tâm lí chưa tích cực chủ động.
III. GIẢI PHÁP
1. Đối với giáo viên
* Nắm vững mục đích, yêu cầu của mỗi bài dạy.
* Chuẩn bị bài chu đáo theo hướng tinh giản.
* Hệ thống câu hỏi lôgíc, chặt chẽ, mang tính gợi mở để HS phát huy tính chủ động, sáng tạo. Tuỳ bài học mà đan xen câu hỏi trắc nghiệm, hoặc cho HS trả lời câu hỏi theo nhóm.
* Mỗi bài học rất cần sự hỗ trợ của công nghệ tin học (máy vi tính, đèn chiếu); rất cần sự hỗ trợ của đồ dùng dạy học (băng đĩa về văn bản tác phẩm, tranh ảnh, hình ảnh minh hoạ).
 Thực tế năm học qua, giáo viên bộ môn đã tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học và đã thu được những hiệu quả tốt. Nhiều giờ dạy học sinh khá hứng thú khi giáo viên biết nhuần nhuyễn kết hợp các phương tiện hỗ trợ hiện đại.
* GV phải chịu khó, nhiệt tình, trăn trở với mỗi bài học; phải quan tâm đến chất lượng, hiệu quả dạy học

   * Cụ thể đối với mỗi bài dạy:
 - Hình thành dựoc kế hoạch bài dạy của mình một cách tường tận, chi tiết.
- Hạn chế việc giảng giải, thuyết trình, minh hoạ, hạn chế việc đưa câu hỏi vụn vặt, mà nên tập hợp các câu hỏi thành những gợi ý hưưóng dẫn giải quyết một vấn đề, một nội học tập tương đối trọn vẹn.
- Dành thời gian cho học sinh làm việc.
- Sau mỗi hoạt động giáo viên giúp học sinh khẳng định lại từng kiến thức cơ bản của bài.
 Với các tác phẩm sau 1975, một giai đoạn văn học mới với những tác phẩm hay và khó như Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Đàn ghi ta của Lorca, Chiếc thuyền ngoài xa bài khái quát cần cung cấp những đặc trưng thi pháp mang tính định hướng cho giáo viên khi tiếp cận. Hơn nữa, cũng cần bổ sung cho học sinh những thông tin cần thiết về phương pháp sáng tác, xu hướng tiếp cận và phản ánh cuộc sống rất khác so với văn học thời chiến. Đây là cơ sở giúp giáo viên và học sinh khỏi bỡ ngỡ, không hời hợt khi đọc hiểu văn bản.
2. Đối với học sinh
* Chú trọng học bài cũ, có thể học thuộc lòng một số văn bản, nắm vững phần ghi nhớ, phân tích văn bản theo yêu cầu của bài học đặt ra.
* Chuẩn bị bài mới theo hệ thống câu hỏi sau khi đã đọc kỹ văn bản, có thể tóm tắt được văn bản, tóm lược và năm vững những ý cơ bản của văn bản.
* Tích cực, chủ động trong học tập. Tránh tâm lí đối phó, thụ động, dựa dẫm vào một số sách tham khảo, sách giải bài tập đã trả lời sẵn những câu hỏi trong sách giáo khoa.
* Tăng cường thực hành kỹ năng ứng dụng theo hướng yêu cầu của sách giáo khoa: Tập viết những đoạn văn ngắn (khoảng 1 trang)
* Đối với mỗi bài học cụ thể:
- Học sinh cần biết rõ mục đích yêu cầu của giờ học, không chỉ về kiến thức mà còn cả về kĩ năng tư duy địa lý.
- Học sinh cần dành thòi gian thích đáng để tự làm việc với sách giáo khoa, tập bản đồ và các nguồn cung cấp kiến thức khấc dưới sự hưướng dẫn của giáo viên.
- Học sinh cách làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, cặp, hợp tác vưói bạn để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao cho.
- Học sinh có cơ hội thể hiện mình, được trình bày lại kết quả làm việc với phương tiện học tập và nêu phương pháp làm việc, biết tự đánh giá kết quả học tâp.
                             C. ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ
1. ĐÁNH GIÁ:
           Nhìn chung nội dung chương trình mang tính hiện đại, sát hợp với thực tiễn. Mạch CT được sắp xếp hợp lí theo trình tự lôgíc, có sự cân đối giữa lí thuyết và thực hành, vận dụng, rất chú ý hướng tới việc rèn luyện kĩ năng cho HS.
 Chương trình đã đi đúng với định hướng đổi mới cả về nội dung lẫn phương pháp.
 Đối với sách giáo khoa đã thể hiện được tính chính xác, tính hiện đại, tính thiết thực, tính hệ thống, lôgíc, tính tích hợp... Đảm bảo có sự cân đối giữa nội dung lí thuyết và thực hành vận dụng.
 Hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài, bài tập thực hành thực sự thể hiện sự đổi mới về phương pháp. Đó là nâng cao khả năng phát triển năng lực tự học, tự độc lập suy nghĩ, khả năng tự bộc lộ; Đồng thời hướng dẫn HS nhuần nhuyễn hơn kĩ năng nói và viết. 
2. KIẾN NGHỊ:
1. Nhìn chung 2 bộ sách 12 chuẩn và nâng cao thống nhất và tuân thủ theo yêu cầu của chương trình và chuẩn chương trình, vì vậy có thể nhập 2 bộ sách làm một. Trong bộ sách chung đó, trên mỗi bài ghi rõ dành cho chương trình nào (Ví dụ: chuẩn, nâng cao, hoặc cả hai chương trình); câu hỏi và bài tập nâng cao dành cho chương trình nâng cao thì in đậm để HS phân biệt.
2. Tăng cường đồ dùng dạy học, cơ sở vật chất máy móc công nghệ tin học vừa để đổi mới phương pháp vừa để giảm tải cho việc dạy- học.
3. Công tác bồi dưỡng hè, bồi dưỡng thường xuyên phải sát hợp, có hiệu quả thiết thực.
4. Mỗi giáo viên phải có ý thức tự học, tự bồi dưỡng qua việc đọc sách, báo, tài liệu, dự giờ đồng nghiệp, trao đổi kinh nghiệm dạy học thông qua tổ, nhóm và trong Hội thảo.

 

 

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn thuộc nhóm bạn đọc nào dưới đây
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm