GV: Thái Thị Lợi
I. ĐÁNH GIÁ VỀ CHƯƠNG TRÌNH, NỘI DUNG SÁCH GIÁO KHOA
Sau gần một năm nghiên cứu, thực hiện chương trình chuẩn, SGK môn Lịch sử lớp XII chuẩn, chúng tôi nhận thấy chương trình, SGK mới có một số ưu điểm, hạn chế như sau:
I.1 Về chương trình
Qua quá trình thực hiện chương trình chúng tôi có một số nhận xét sau:
- Chương trình lịch sử lớp XII (chuẩn) được xây dựng đã bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử trong trường học.
- Mạch kiến thức được thể hiện trong chương trình đảm bảo tính khoa học, phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh
- Nội dung chương trình căn bản đảm bảo yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, giáo dục tư tưởng, tình cảm học sinh.
I.2. về sách giáo khoa
* Ưu điểm:
- Sách trình bày đẹp, rõ ràng.
- Kênh hình phục vụ tốt cho việc khai thác nội dung SGK.
- Mỗi bài đều có lời tóm tắt, có tác dụng định hướng cho học sinh tự học, tự nghiên cứu.
- Hệ thống câu hỏi, bài tập cuối bài có tác dụng khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
* Hạn chế:
- Sách vẫn có quá nhiều lỗi chính tả không đáng có (về dấu) .
- Sách giáo khoa đã cố gắng tinh giản kiến thức để phù hợp với việc rút chương trình 1,5 tiết/tuần so với trước là 2 tiết/tuần. Nhưng lại tạo ra nhiều khó khăn cho người dạy.
Một là, có nhiều bài quá dài so với thời lượng 1 tiết học. Cụ thể:
+ Bài 4: Các nước ĐNA và ấn Độ
+ Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 - 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời
+ Bài 21: Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965)
Hai là, vì kiến thức quá tinh giản, yêu cầu học sinh chỉ nắm theo tinh thần SGK nên tạo ra cảm giác nhàm chán cho bài giảng. Nặng về quy nạp mà không có sử liệu cụ thể minh họa. Giáo viên cung cấp thêm thì sẽ không kịp thời gian, việc khai thác hình ảnh, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao tính giáo dục, tạo xúc cảm, rung động lịch sử cho học sinh như trong yêu cầu đổi mới dạy – học bộ môn mà bộ ban hành bị hạn chế.
- Có sự trùng lặp kiến thức giữa các bài. Cụ thể, ở Bài 9, mục IV “Thế giới sau chiến tranh lạnh” và Bài 11, mục II “Xu thế phát triển của thế giới sau chiến tranh lạnh” đều đề cập nội dung xu thế mới của thế giới sau Chiến tranh lạnh, nhưng nội dung được trình bày giữa hai bài lại có độ vênh.
- Một số mục, cách diễn đạt chưa thực sự mạch lạc, trong sáng. Chẳng hạn:
Bài 16, mục 1 viết “ở Đông Dương, đô đốc G. Đờcu được cử làm Toàn quyền thay G. Catơru. Chính quyền mới thực hiện một loạt chính sách nhằm vơ vét sức người, sức của ở Đông Dương để dốc vào cuộc chiến tranh”. Nhưng đầu mục 2 lại viết: “Đầu tháng 9/1939, toàn quyền Catơru ra lệnh tổng động viên nhằm cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu”. Trong thời gian Chiến tranh thế giới II bùng nổ đã có sự thay thế Toàn quyền Đờcu và Catơru, nhưng viết như thế dễ gây hiểu nhầm cho HS. Theo chúng tôi, mục 1 nên bỏ câu “ở Đông Dương, đô đốc Đờcu được cử làm Toàn quyền thay Catơru”.
Bài 17, mục I viết: “Nền kinh tế nông nghiệp nước ta vốn đã lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; hậu quả nạn đói cuối năm 1944 - đầu năm 1945 chưa khắc phục được” Theo tôi, không thể khắc phục được hậu quả nạn đói (gần 2 triệu người chết, làm sao khắc phục được hậu quả?) mà nên viết là: Nạn đói cuối 1944 - đầu 1945 vẫn chưa khắc phục được.
II. Một số giải pháp khắc phục khó khăn trong giảng dạy
Qua gần một năm thực hiện chương trình và SGK mới, chúng tôi nhận thấy cần thực hiện một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giờ học, khai thác triệt để những ưu điểm của SGK như sau:
II.1. Đối với giáo viên
- Bám sát chuẩn kiến thức, lấy sách giáo khoa là tài liệu tham khảo chính để thực hiện các bước lên lớp.
- Nội dung kiến thức từng bài khá cô đọng, tinh giản, vì vậy phải dựa trên tinh thần chủ động khai thác kiến thức SGK của học sinh để chiếm lĩnh tri thức mà thực hiện yêu cầu một bài giảng.
- Khai thác triệt để ưu thế của công nghệ thông tin, kênh hình trên mạng Internet, trong SGK để nhấn mạnh, khắc sâu kiến thức cơ bản, tăng xúc cảm lịch sử cho học sinh.
- Chú trọng rèn luyện kĩ năng lập bảng biểu, bảng hệ thống hóa kiến thức của học sinh.
- Giáo viên cần nghiên cứu và khai thác sách hướng dẫn giảng dạy, các tài liệu tham khảo khác để có thêm nguồn sử liệu nhằm minh họa cho học sinh hiểu một số sự kiện, khái niệm lịch sử mà SGK không thể trình bày một cách cụ thể không thể không đề cập, nếu không học sinh sẽ nhận thức mơ hồ. Chẳng hạn khái niệm như thế nào là ấp chiến lược, trực thăng vận, thiết xa vận, vành đai trắng, phòng không nhân dân ….
- Hướng dẫn cho học sinh làm các bài tập lịch sử trong mỗi học kì
- Khâu dặn dò học sinh chuẩn bị bài mới cần được chú trọng để học sinh có định hướng tự nghiên cứu trước. Yếu tố chủ động học tập từ phía học sinh một phần là do nhận thức của học sinh, nhưng cũng phụ thuộc nhiều vào sự kiểm tra, đôn đốc của giáo viên.
II.2. Đối với học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tinh thần chủ động của học sinh phụ thuộc lớn vào việc giáo viên phải tạo, rèn luyện nề nếp học tập
- Để học tốt môn sử, trước hết học sinh phải có đủ tài liệu học tập cơ bản là SGK
- Ngoài việc học bài cũ, học sinh phải hình thành được thói quen sọan bài mới theo hướng dẫn của giáo viên
- Cần phải tạo ra một thói quen tư duy, tự nghiên cứu và mạnh dạn bày tỏ quan điểm của học sinh.
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Qua đây, chúng tôi cũng có một số kiến nghị sau:
- Về cơ sở vật chất, cần mở rộng các phòng học ứng dụng công nghệ thông tin nhiều hơn để giáo viên có thể khai thác được nhiều về các kênh hình ngoài sách giáo khoa, có điều kiện kết hợp các phương pháp giáo dục hiện đại với phương pháp truyền thống.
- Trong điều kiện hiện tại số phòng học ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế cần có kế hoạch bổ sung, làm mới các phương tiện dạy học truyền thống như bản đồ, tranh minh họa.
- Những hạn chế của SGK, chương trình khi được những người trực tiếp giảng dạy có ý kiến cần được cấp trên xem xét, quan tâm giải quyết.


















