Home Nghiên cứu khoa học NHẬN XÉT CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA MÔN ĐỊA LÝ LỚP 12 NC

NHẬN XÉT CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA MÔN ĐỊA LÝ LỚP 12 NC

User Rating: / 1
PoorBest 

Người thực hiện: Hoàng Thị Lệ

I. Chương trình môn Địa lý lớp 12
1. Cấu trúc và nội dung chương trình.
Chương trình Địa lý lớp 12 cung cấp hệ thống kiến thức về Địa Lý Tổ quốc. Những nội dung chính trong chương trình không có sự khác biệt nhiều giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao.
Cấu trúc chương trình bao gồm 5 phần. Địa lý tự nhiên, Địa lý dân cư, Địa lý các ngành kinh tế, Địa lý vùng và địa lý địa phương. Mỗi phần có vai trò nhất định trong việc trang bị kiến thức cho học sinh để tạo nên chương trình tổng thể, tương đối hoàn chỉnh về địa lý Tổ quốc trên cơ sở kế thừa, phát triển và nâng cao  chương trình Địa lý ở bậc THCS.


Khác với chương trình Địa lý 12 cũ, chương trình mới có thêm phần Địa lý địa phương, giúp giáo viên và học sinh hiểu thêm về địa lý địa phương nơi bản thân mình đang học tập và sinh sống.
2. Sự khác nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao.
Chương trình môn Địa lý lớp 12 có sự khác nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao. Tuy nhiên, sự khác nhau này không quá 20% về khối lượng kiến thức.
- Về thời lượng: tương quan giữa hai chương trình là 52,5 tiết ở chương trình chuẩn và 70 tiết ở chương trình nâng cao.
- Về nội dung: sự chênh lệch giữa hai chương trình được thiết kế theo hai hướng. Thêm một vài nội dung trong chương trình nâng cao (Vốn đất và sử dụng vốn đất, vấn đề phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, Chất lượng cuộc sống, một số bài thực hành...). Hướng chủ yếu là phân hoá giữa hai chương trình về mức độ kiến thức. Cùng một nội dung, nhưng lại có sự chênh lệch về mức độ nông, sâu của kiến thức, số tiết ở chương trình nhiều hơn trong một đơn vị kiến thức.
3. Những nội dung mới và khó.
Những nội dung mới của chương trình Địa lý 12 được hiểu là những nội dung chưa hoặc ít được đề cập trong chương môn Địa lý ở các khối lớp trước. Còn những nội dung khó, có thể không mới, nhưng tính trên mặt bằng chung của học sinh là khó tiếp thu, đòi hỏi giáo viên phải chú ý trong quá trình dạy học.
Trong chương trình Địa lý 12, những nội dung mới và khó có ở hầu hết các bài học thuộc phần Địa lý tự nhiên Việt Nam, trong đó có nội dung hoàn toàn mới là vẽ lược đồ Việt Nam. Đối với các phần còn lại của chương trình, những nội dung mới và khó phân bố rải rác ở cả Địa lý dân cư (Bài Chất lượng cuộc sống), Địa lý các ngành kinh tế (Bài các ngành công nghiệp trọng điểm), Địa lý các vùng (Bài Vấn đề phát triển kinh tế xã hội vùng Bắc Trung Bộ, Vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở Biển Đông và các đảo, quần đảo).
Ví dụ: bài 3: Vẽ lược đồ Việt Nam, đây là một nội dung qúa khó, nhất là các em học ban C, kỹ năng tính toán còn yếu. Để vẽ được một lược đồ Việt Nam có hình dạng gần giống và gần chính xác thì quả là mất thời gian nhiều.
Hoặc bài 5, 6: Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ. Để hiểu rõ hơn về các vận động kiến tạo qua các đại, kỷ, hệ rất khó. Mối liên hệ giữa sự hình thành và phát triển các thành phần tự nhiên ở từng giai đoạn, sự hình thành các mỏ khoáng sản, các loại khoáng sản nhiều khi còn mơ hồ, trừu tượng.
II. Nội dung sách giáo khoa.
1. ưu điểm sách giáo khoa.
- Về cấu trúc, chương trình nâng cao có 62 bài, bao gồm 48 bài lý thuyết và 14 bài thực hành.
- Về nội dung và hình thức trình bày, sách giáo khoa Địa lý 12 đã thiết kế thành các bài học tương đối độc lập và ứng với mỗi bài là một tiết. Trong trường hợp có mốt số đơn vị kiến thức khó chia tiết thì chấp nhận phương án có bài tiếp theo. Điều này chủ yếu gặp ở phần Địa lý tự nhiên Việt Nam. Ví dụ như: Bài Đất nước nhiều đồi núi (2 tiết), Bài Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (2 tiết), Thiên nhiên phân hoá đa dạng (3 tiết), Sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường (2 tiết).
Có hai loại bài trong sách giáo khoa Địa lý 12, đó là bài lý thuyết và bài thực hành.
 Các bài lý thuyết: có kênh chữ, kênh hình và các câu hỏi giữa bài và cuối bài.
- Kênh chữ: được viết ngắn gọn, súc tích nhằm tạo điều kiện cho học sinh tự học, tự ôn để nắm  vững kiến thức cơ bản. Mỗi bài học được chia làm nhiều mục lớn ứng với các đơn vị kiến thức mà học sinh cần nắm. Kênh chữ kết hợp với kênh hình tạo thành một thể hữu cơ thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các số liệu được lấy từ Niên giám thống kê Việt Nam và được cập nhật từ năm 2005. Trong khi phân tích, đôi chỗ có sử dụng số liệu năm 2006.
- Kênh hình: bao gồm các lọai sơ đồ, biểu đồ và bản đồ (hoặc lựơc đồ) với tác dụng giúp học sinh nhanh chóng phát hiện được các xu thế chủ yếu nhất của sự vật và hiện tượng địa lý. Một số sơ đồ, bản đồ còn thể hiện cả mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng, quá trình địa lý. Hệ thống bản đồ được xây dựng tương đối đa dạng, phong phú, phù hợp với nội dung kênh chữ trong sách giáo khoa. Đặc biệt kênh hình ở đây không những minh hoạ kiến thức mà kênh hình giúp học sinh vận dụng những kỹ năng địa lý cơ bản để khai thác kiến thức.
Ví dụ như: Hình 5. Cấu trúc địa chất Việt Nam, hình được vẽ các loại đá qua các thời kỳ rất rõ ràng, qua đó học sinh có thể khai thác kiến thức và từ đó biết được lịch sử hình thành của lãnh thổ Việt Nam qua các giai đoạn.
Hình 7: Địa hình Việt Nam, qua bản đồ địa hình Việt Nam, giáo viên giúp học sinh khai thác kiến thức thông qua bản đồ tự nhiên. Từ dó học sinh nắm được tổng quan địa hình, sự khác nhau cơ bản và đặc điểm riêng của mỗi vùng.
- Các câu hỏi giữa bài: giúp học sinh tự tìm hiểu kiến thức trong quá trình học tập, nhất là đối với những câu hỏi yêu cầu phải vận dụng các kiến thức đã học, các hiểu biết cá nhân, hoặc kiến thức để khai thác kênh hình. Giáo viên cũng có thể sử dụng các câu hỏi giữa bài trong các hoạt động lên lớp, giúp quá trình dạy học diễn ra liên tục, lo gíc và khai thác sâu hơn kiến thức bài học.
Các câu hỏi và bài tập cuối bài: chỉ ra những kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm vững cũng như rèn luyện kỹ năng tư duy địa lý. Trong số này có một vài bài tập tương đối khó nhằm giúp học sinh làm quen với tác phong nghiên cứu.
. Các bài thực hành: chiếm khoảng 20% thời lượng và tập trung vào các dạng sau đây:
- Vẽ lược đồ Việt Nam, đây là cơ sở để tiến hành các bài thực hành điền các đối tượng địa lý tự nhiên, kinh tế trên lưựoc đồ.
- Đọc bản đồ trong sách giáo khoa kết hợp với át lát Địa lý Việt Nam để phát hiện các đặc điểm về tự nhiên hay kinh tế-xã hội, xác định các mối quan hệ không gian giữa các đối tượng và quá trình địa lý.
- Vẽ biểu đồ và phân tích bảng số liệu. Đây là kỹ năng địa lý mà học sinh thường được sử dung nhiều nhất trong quá trình làm bài thi và kiểm tra.
- Thu thập các thông tin, số liệu từ các nguồn khác nhau, kết hợp át lat và kiến thức đã học để viết một báo cáo.
2. Nhược điểm của sách giáo khoa
- Nhiều bài kiến thức đưa vào còn quá nhiều, trong 1 tiết dạy giáo viên không thể truyền đạt hết kiến thức cho học sinh. Nếu để học sinh tìm tòi, tự nghiên cứu và hiểu được bản chất vấn đềthì đòi hỏi về thời gian phải gấp nhiều lần so với 45 phút,
Ví dụ: bài Tổ chức lãnh thổ nông nghiêp (trang 131) có quá nhiều nội dung mới và khó. Nội dung ở các phần còn quá trừu tượng, quá nhiều khái niệm nhiều mối liên hệ, nhiều đơn vị kiến thức. Vì vậy để kịp thời gian thì bài dạy sẽ không truyền đạt được các đơn vị kiến thức.
- Nhiều câu hỏi giữa bài và cuối bài còn quá khó
+ Câu hỏi giữa bài: Ví dụ: bài 15 Thiên nhiên phân hoá đa dạng có câu hỏi giữa bài phần b: Mối quan hệ với Việt Nam và Trung Quốc về cấu trúc địa chất, kiến tạo? Hoặc dạy bài 43: Vờn đề phát triển hinh tế-xã hội Bắc Trung Bộ, khi dạy phần 2, cơ cấu nông lâm ngư: câu hỏi Tại sao nói sự hình thành cơ cấu nông lâm ngư của vùng góp phần tạo thế liên hoàn trong phát triên cơ cấu kinh tế theo không gian. Để giải quyết dược câu hỏi này đòi hỏi giáo viên phải dạy xong toàn bộ nội dung đó, phải mở rộng kiến thức, phải tư duy, liên hệ thì mới giải thích được tính liên hoàn trong cơ cấu nông lâm ngư. Trong khi bài này nhiều kiến thức và rất dài nên không đủ thời gian để khai thác sâu.
+ Đối với câu hỏi cuối bài
Ví dụ: Khi dạy bài 15. Thiên nhiên phân hoá đa dạng trang 61. Cuối bài có câu hỏi Từ những đặc điểm tự nhiên rút ra những thuận lợi và khó khăn của mỗi miền trong sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường?
Hoặc bài 48: vấn đề phát triển khinh tế-xã hội vùng Bắc Trung Bộ trang 48. câu hỏi Tại sao việc phát triển cơ sở hại tầng giao thông sẽ tạo bước ngoặt quan trọng trong hình thành cơ cấu kinh tế vùng?
Với câu hỏi này, giáo viên dạy xong cũng phaỉ suy nghĩ tổng hợp kiến thức từ nhiều khía cạnh khác nhau mới có thể vận dụng giải quyết được.
III. Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.
1. Đổi mới phương pháp dạy học:
a. Thực trạng dạy học Địa lý ở bặc THPT:
- Một số giáo viên Địa lý chưa xác định tầm quan trọng của phương thức và cách thức đổi mới phương pháp dạy học địa lý: hiểu về cơ sở lý luận, thực tiễn của đổi mới.
- Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một cách bị động.
- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu. Dạy theo lớp là chủ yếu. các hình thức dạy học cá nhân, nhóm, ngoài giờ chưa được thực hiện đồng bộ, hoặc thực hiện chưa hiệu quả.
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ. Đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học chưa nhiều, vì nhiều lý do khác nhau, từ cơ sở vật chất, máy móc đến khả năng sử dụng của giáo viên. Bên cạnh đó còn có nguyên nhân chủ quan của mỗi giáo viên, bởi để sử dụng thiết bị công nghệ thông tin vào một tiết dạy đòi hỏi phải có nhiều thời gian tìm hiểu tài liệu, thiết kế bài dạy phù hợp. Tuy nhiên, cần phải có sự chọn lựa nội dung thật  thích hợp để sử dụng công nghệ thông tin vào giờ dạy nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
b. Chương trình sách giáo khoa nâng cao đã có những đổi mới
So với chương trình cũ, chương trình sách gáio khoa mới có những thay đổi về nội dung và cấu trúc. Điểm nổi bật của nội dung chương trình là rất chú trọng việc hình thành năng lực cho người học, đổi mới cách dạy và học, điều đó được thể hiện trong quan điểm lựa chọn các vấn dề, tăng tiết dành cho hoạt động thực hành, có định hướng rõ về đổi mới phương pháp và kiểm tra đánh giá. Bên cạnh chương trình bắt buộc còn có chương trình tự chọn nhằm đáp ứng khả năng và nhu cầu của học sinh. Tất cả những thay đổi đó đều tạo cho việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lý ở trường THPT.
c. Nhận thức của giáo viên đã có sự thay đổi.
Hầu hết giáo viên địa lý đều hiểu được cùng với đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và sách giáo khoa. Việc đổi mới phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất đến việc nâng cao chất lượng dạy và học địa lý. Một khi chương trình và sách giáo khoa đã đổi mới thì việc đổi mới phương pháp dạy học là tất yếu.
d. Đổi mới phương pháp dạy học thể hiện trong một tiết học địa lý.
 Đối với giáo viên:
- Hình thành dựoc kế hoạch bài dạy của mình một cách tường tận, chi tiết.
- Hạn chế việc giảng gải, thuyết trình, minh hoạ, hạn chế việc đưa câu hỏi vụn vặt, mà nên tập hợp các câu hỏi thành những gợi ý hưưóng dẫn giải quyết một vấn đề, một nội học tập tương đối trọn vẹn.
- Dành thời gian cho học sinh làm việc.
- Sau mỗi hoạt động giáo viên giúp học sinh khẳng định lại từng kiến thức cơ bản của bài.
 Đối với học sinh:
- Học sinh cần biết rõ mục đích yêu cầu của giờ học, không chỉ về kiến thức mà còn cả về kĩ năng tư duy địa lý.
- Học sinh cần dành thòi gian thích đáng để tự làm việc với sách giáo khoa, tập bản đồ và các nguồn cung cấp kiến thức khấc dưới sự hưướng dẫn của giáo viên.
- Học sinh cách làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, cặp, hợp tác vưói bạn để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao cho.
- Học sinh có cơ hội thể hiện mình, được trình bày lại kết quả làm việc với phương tiện học tập và nêu phương pháp làm việc, biết tự đánh giá kết quả học tâp.
2. Đổi mới phương pháp kiểm tra đấnh giá.
Trong chương trình THPT, mục tiêu của môn Địa lý đã có những thay đổi, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc hình thành các năng lực của người lao động trong tương lai, do đó mục đích đánh giá không chỉ nhằm vào đánh giá việc lĩnh hội kiến thức mà cần chú ý hơn vào việc đánh giá các kỹ năng, năng lực và thái độ của học sinh trong điều kiện có thể được.
Để hình thành và phát triển các năng lực của người học theo mục tiêu giáo dục, nội dung đánh giá cần được thay đổi theo hướng đánh giá một cách toàn diện kết quả học tập, phấn đấu của học sinh, cần chú trọng tới hiệu quả hoạt động giảng dạy trong việc phát triển khả năng của người học.
Nội dung đánh giá cần phải thể hiện sự phân hoá. Mỗi đề kiểm tra nên đảm bảo 70% câu hỏi, bài tập đo được mức độ đạt trình độ cơ bản danh cho mọi học sinh, 30% còn lại phản ánh mức độ nâng cao, dành cho học sinh có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn.

 

 

 

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn thuộc nhóm bạn đọc nào dưới đây
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm