Home Tổ chuyên môn Anh Thư viện chuyên môn Khái niệm về lỗi và việc phân tích lỗi

Khái niệm về lỗi và việc phân tích lỗi

Khái niệm về lỗi và việc phân tích lỗi. Những lỗi mà học sinh các lớp THPT thường mắc phải khi học tiếng Anh. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục

A. Ngôn ngữ học đối chiếu với mục đích phân tích lỗi và sửa lỗi.

1. Lỗi – Định nghĩa lỗi.

Lỗi- nảy sinh ở người nói tiếng nước ngoài- được hiểu là những gì mà người ấy làm sai lạc các sự kiện ngoại ngữ so với chuẩn của nó.

Lỗi ngoại ngữ là sự vi phạm các quy tắc của hệ thống ký mã ngoại ngữ. Do vây, thông tin không được hiểu và truyển đạt chính xác.

Lỗi như là một sản phẩm của mối quan hệ tương phản trong việc truyền đạt thông tin cho thấy nguyên nhân của sự biến dạng nó.

2. Có nhiều nguyên nhân gây ra lỗi:

Nguyên nhân trực tiếp là sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ (N1) (hay của một ngoại ngữ nào đó) đối với ngoại ngữ đang học (N2). Ngôn ngữ học đối chiếu liên quan chặt chẽ với việc phân tích lỗi khi nó giúp chúng ta đitìm nguyên nhân của lỗi qua những ảnh hưởng của N1 đối với N2.

3. Có 2 loại lỗi: lỗi tiềm ẩn và lỗi hiển hiện

1. Lỗi tiềm ẩn(erreur) là lỗi có thể xuất hiện do người nghiên cứu dự đoán khi đối chiếu tiếng mẹ đẻ (N1) và ngoại ngữ (N2) nhằm phát hiện các giao thoa.

2. Lỗi hiển hiện(faulte) là lỗi đã xảy ra trong thực tế học tập và  sử dụng ngoại ngữ ở những người đang học ngoại ngữ ấy.

Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, một mặt phải tập trung vào sự dự báo những lỗi sai có tính chất tiềm ẩn nhằm phòng ngừa chúng; mặt khác cũng hướng tới việc phân tích các lỗi sai hiển hiện để tìm ra nguyên nhân gây lỗi do các giao thoa ngôn ngữ đưa lại.

4. Dựa vào đối tượng nói mắc lỗi ngôn ngữ N1 nào, có thể phân biệt 2 kiểu lỗi bị mắc:

1. Lỗi thường mắc chỉ ở một học sinh nói N1 nào đó;

2. Lỗi thường mắc ở hầu hết các học sinh nói N1 bất kể là ngôn ngữ nào  (cùng, gần hay khác loại hình với N2).

Kiểu lỗi thứ nhất thường là do những ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ (N1) đến ngoại ngữ gây ra. Ngôn ngữ N1 ở đây thuộc thuộc loại hình khác hẳn với ngoại ngữ N2.

Kiểu lỗi thứ 2 là do những nét rất riêng đặc thù của ngoại ngữ gây nên. Nghiên cứu đối chiếu đặc trưng học – ngôn ngữ sẽ giúp ta phát hiện và dự đoán các lỗi kiểu này.

Lỗi phát âm thanh điệu đối với những người học tiếng Việt nói các ngôn ngữ không thanh điệu (các ngôn ngữ Ấn Âu biến hình chẳng hạn) thuộc các kiểu lỗi thứ nhất. Còn việc về lỗi sử dụng các kết hợp động từ của tiếng anh – đối với tất cả những ai học tiếng anh như một ngoại ngữ- thuộc các kiểu lỗi thứ 2.

B. Những lỗi mà học sinh các lớp thường mắc phải.

I.  Lỗi phát âm

1. Lỗi không phát âm âm đuôi (ending sounds)

Nhiều học sinh phát âm các từ sau đều giống nhau /wai/

wine            why            white                    wide            wife             while

Các âm cuối như /k/ trong “like” hay “think” thường xuyên không được phát âm bởi người Việt Nam. Các âm cuối khác như /f/ như trong từ “safe” sẽ biến mất: “sây”.

Các cụm âm cuối khó hơn có thể bị lược bớt cho dễ đọc hơn, ví dụ “build” thường đơn giản được đọc là “biu” - âm /ld/ hoàn toàn biến mất (thật ra là âm “u” trong từ này không được đọc); hay “milk” được giản lược thành “miu” - âm /lk/ cũng không được nhớ đến.

Đây là lỗi phát âm tiếng Anh phổ biến của đa số người Việt.
Một điều cần nhớ để phát âm tiếng Anh giúp người nghe  hiểu được các bạn nói gì thì các bạn phải phát âm đuôi. Lỗi của người Việt là không phát âm âm đuôi vì tiếng Việt của chúng ta đọc rất ngắn gọn không phát âm âm đuôi và các bạn áp dụng thói quen vào việc phát âm tiếng Anh
Nếu bạn không phát âm âm đuôi dễ gây những  hiểu nhầm cho người nghe và dẫn đến những tình huống nhầm lẫn do hai người không hiểu ý nhau. Vì thế, để không khiến  người khác hiểu lầm ý của mình thì các bạn đừng có lười trong việc đọc âm đuôi

2. Không nắm chính xác  quy tắc phát âm tiếng Anh

a) Thường phát âm chữ “iz” trong tất cả từ có đuôi “es”

Đôi khi, bạn có thể cảm thấy bối rối và thật vô lý khi một số từ có đuôi “es” mà lại không phát âm là /ɪz/. Một ví dụ tiêu biểu là từ “clothes” được phát âm là /kloʊðz/ thay vì /’kloʊ-ðɪz/, hay planes là /pleɪnz/ chứ không phải /pleɪnɪz/. Ấy vậy mà, cũng đuôi “es”, từ “roses” lại được phát âm là /’roʊ-zɪz/.

Khi gặp những từ như vậy, tin tốt là bạn có thể biết được lúc nào thì “es” được phát âm là /ɪz/, lúc nào không. Nếu bạn để ý, từ “rose” có âm cuối là /z/ - một âm gió - nên khi thêm “es” vào sau, sẽ được đọc là /’roʊ-zɪz/.

Còn từ “clothe” hay “plane” có âm cuối là /ð/ nay /n/ - không phải âm gió - nên khi thêm “es” vào sau sẽ không đọc là /ɪz/.

b) Các động từ ở dạng quá khứ có quy tắc hay phát âm là /id/

stopped /stopid/   looked /_id/

c) Lỗi phát âm âm /s/ không đúng chỗ hoặc bỏ qua không đọc âm /s/ khi đọc tiếng Anh

Trong câu: She likeswatching television có nhiều bạn không đọc âm /s/ trong từ likes
Please! Stand up thì chúng ta lại cho thêm âm /s/ vào từ up

e) Âm gió đọc “tùy tiện”

Âm gió là khái niệm rất mù mờ với người Việt Nam. Một phần lý do là không có sự tương đồng giữa các âm gió tiếng Việt (“xờ nhẹ”, “sờ nặng”, “ch chim”, “tr trâu”) với âm gió tiếng Anh.

Các âm gió được sử dụng tương đối tùy tiện, nên “see” và “she” đôi khi được phát giống nhau. Âm /z/ nếu đứng đầu từ được đọc là “d”, ví dụ “zoo” được phát âm là “du”; còn cuối từ thì… biến mất, như “plays” thì được đọc là “pờ-lây”.

3. Lỗi Việt hóa khi phát âm tiếng Anh

Ví dụ cụ thể việc phát âm Việt hóa của người Việt
-         /ð/: thường bị phát âm sai là dơ
gather /’gəeðə/: từ này bị Việt hóa thành /gedờ/

-         /ei/ thường được người Việt phát âm thành êây
-         /əʊ/ đa phần người Việt lại đọc là ô
load  / rəʊd/: người Việt đọc là lốt
boat / bəʊt/: chúng ta thường phát âm sai là cốt
Phát âm sai ở cuối từ

- /d/ là /t/; /b/ là /p/; và /g/ là /k/

Trong tiếng Việt, không có từ nào có âm cuối là /d/, /b/ hay /g/ cả. Nên một “thói quen khó bỏ” của người học sinh là hễ đứng cuối từ là một trong 3 âm này, thì sẽ được phát âm tương ứng là /t/, /p/ và /g/. Ví dụ “rob” sẽ được phát âm là “rốp”; “trade” sẽ được phát âm là “trết”; và dog là đóc.

- “th” là /t/; /f/ là /p/; /ks/ là “ch”

Các âm cuối “th” như “breath” được đọc là “bờ-rét”; âm cuối “f” như “if” được đọc là “íp”; “six” được đọc là “xích”.

Phát âm tiếng Anh bằng cách “đánh vần”

Nhiều người đã quá quen thuộc với cách đánh vần trong tiếng Việt, nên họ hy vọng có thể tìm được “quy tắc” đánh vần tiếng Anh. Điều này là không thể.

Bạn có thể đánh vần tiếng Việt (và một số ngôn ngữ khác) vì mỗi chữ cái đều tương ứng với một âm. Ví dụ, chữ “á” được phát âm giống nhau, bất kể đó là “cá”, “cát”, “cánh” hay “cám”. Điều này không đúng với tiếng Anh. Ví dụ, chữ “u” trong “put” và “but” có cách phát âm hoàn toàn khác nhau; hoặc chữ “oo” đọc khác nhau trong các từ “blood”, “foot” và “food”.

Nếu nhìn vào cách viết, bạn sẽ không thể phát âm chính xác từ “comfortable” hay “phoenix”. Trong tiếng Anh, chỉ có 40% số từ có cách đọc giống cách viết. Ngoài ra, nhiều người mới học tiếng Anh dễ cảm thấy bối rối nhất là khi gặp những từ như “not” và “note” hoặc “bit” và “bite”. Nếu chưa biết cách đọc đúng, học sinh có khuynh hướng sẽ đánh vần tiếng Anh theo kiểu: no-te và bi-te.

4. Lỗi không nhấn trọng âm (Stress) khi đọc tiếng Anh

Hs có điểm yếu rất lớn là khi nói tiếng Anh không phân biệt được trọng âm của tiếng Anh. Trong khi phần trọng âm là một phần rất quan trọng bởi nếu nói sai thì người bản xứ không thể hiểu mình nói gì. Điều này xuất phát từ việc tiếng Việt đơn âm tiết và người Việt thường quen đọc từng âm tiết và không có trọng âm nên chúng ta đọc đều đều các từ mà không có trọng âm. Cách đọc đó khiến người nghe cảm thấy rất là cứng từ nào cũng giống từ nào

Trọng âm, mặc dù rất quan trọng trong phát âm tiếng Anh, xem ra không mấy quan trọng với phần lớn người Việt Nam. Thật ra, ít người Việt Nam quan tâm trọng âm là cái gì khi nói tiếng Anh. Ví dụ “download” đơn giản được đọc là “đao-loát”; “literature” được đọc là “lít-tờ-rây-chờ”.

5. Lỗi quên nối âm khi nói tiếng Anh hoặc không đồng hóa trong phát âm.

Ví dụ những từ chúng ta cần nối âm với nhau như là: You and_I thì người chúng ta thường đọc chúng một cách rất rời rạc.

6. Lỗi không có ngữ điệu (intonation ) khi nói tiếng anh hoặc thói quen lên giọng ở câu trần thuật.

Tiếng Anh linh hoạt hơn tiếng Việt. Vì thế, hs khi nói tiếng Anh thường không biết lên chỗ nào lên và xuống chỗ nào nên họ nói tiếng Anh một cách đều đều không có ngữ điệu. Sẽ rất khó để bắt được từ khóa của câu với cách nói như vậy.

Đây là những lỗi phát âm tiếng Anh phổ biến của người Việt . Để khắc phục được những điều này, các bạn phải nắm vững các lý thuyết về phát âm và luyện tập thường xuyên.

II. Lỗi ngữ pháp

1. Cách chia các thì/ thời

a. Không thêm S ở ngôi thứ 3 số ít thời hiện tại.

He work in his room.(Thay vì he works...)

b. Chỉ thêm S thay vì ES

He brushs his clothes. (Thay vì  He brushes)

c. Lầm thì  quá khứ của nhữngđộng từ bất quy tắc.

He falled down to the river. (Thay vì fell down)

d. Lầm thời đơn với thì liên tiến hoặc ngược lại những động từ trạng thái.

I am getting up at 6o’clock every morning.(I get up...)

I am understanding the leson now. (I understand...)

e. Dùng thời FUTURE sau WHEN.

I shall see you  when you will come back ( ... when you come back)

f. Không hòa hợp các thời.

They asked him to be President, but he refuses. (he refused...)

He said that he will arrive tomorrow. (he would...)

2. Cách dùng dạng động từ.

a. Dùng lầm infinitive sau giới từ.

I goes out without to ask me. (asking)

b. Dùng lầm inf sau 1 số động từ

Would you mind to open the door?(opening)

3. Lỗi về danh từ.

a. Dùng lầm giống (gender).

My father is sitting at her table.(his table)

b. Thêm S sau bất cứ danh từ nào ở số nhiều.

He is not happy with many wifes.( wives)

c. Những tiếng không có hình thức số nhiều.

Advices thay vì advice.

4. Lỗi về hình dung từ.

a. Đặt sai vị trí.

I have a book new and interesting.(a new and interesting book)

There is special nothing under the sun?( nothing special)

b. Viết hình dung từ ở hình thức đa số.

I have many goods friends.(good friends)

c. Lầm hình dung từ với danh từ.

You are fool.(You are a fool)

You are a foolish.( You are foolish)

5. Lỗi về trạng từ

a. Vị trí trạng từ thời gian.

We went out last week for a picnic.(We went out for a picnic last week)

They come always late to school.( They always come...)

b. Trường hợp ENOUGH.

You have enough drunk.( You have drunk enough.)

She is enough tall to reach the book.( tall enough)

c. Dùng lầm VERY.

I like wine very.( very much)

6. Lỗi về giới từ.

a. Dùng lầm giới từ.

They are accustomed with hot weather.( to)

b. Thiếu giới từ

He asks me money.(He asks me for money)

c. Thừa giới từ.

He enters into the room.( He enters the room)

d. Lầm LIKE với AS

He walks like I do.( as I do)

7. Lỗi về mạo từ.

a. Thiếu mạo từ xác định.

Sun rises every morning.(The sun)

Book I give you is interesting.(The book)

b. Thừa mạo từ xác định.

Here is a girl whose the voice is sweet. (whose voice...)

The war is a horrible thing. (War...)

c. Đặt sai vị trí.

The most of  boys are lazy. ( Most of the boys...)

8. Lỗi về đại danh từ

a. Lầm đại từ chủ ngữ và đại từ tân ngữ.

He does that for I.( me)

b. Lầm WHO với WHICH

I have a sister  which sings very well. ( who sings...)

9. Lỗi về cách đặt câu.

a. Đặt sai vị trí bổ túc từ trong câu.

I give to him some sweets.( I give some sweets to him)

b. Không đảo ngược trong câu nghi vấn.

Why you were absent yesterday?( Why were you absent yesterday?)

c. Lầm WHAT với HOW.

What happy we are!( How happy...)

III. Lỗi từ vựng

1. Động từ.

He accepted to give me a car.( agreed to give...)

He does mistaks.(makes mistakes)

2. Danh từ.

I must go house now. ( go home)

I usually get up at 6 hours.( o’clock)

3. Hình dung từ.

Hanoi is further than Hue.( farther: xa hơn; further : thêm nữa)

Nam is a well worker.( good: tính từ).

Are you interesting in your work?( interested: bị tác động)

5. Trạng từ.

You are fairly lazy. (rather lazy: rather dùng với tính từ nghĩa xấu; fairly dùng với tính từ nghĩa tốt)

The baby can hard walk.( hardly: hầu như không; hard: 1 cách chăm chỉ hoặc vất vả khó khăn)

She always arrives lately.( late: muộn; lately: dạo gần đây)

6. Giới từ.

I kill the tiger by a gun.(with a gun: phương tiện hành động; by: bởi)

Come and sit besides me. (beside me: bên cạnh; Besides: thêm vào = in addition to)

We have lived here since four years. ( for four years: for = khoảng thời gian; since: + mốc thời gian)

C. Nguyên nhân

Có khá nhiều nguyên nhân gây ra những lỗi thường gặp khi học tiếng Anh của học sinh, sinh. Có thể xem xét một vài nguyên nhân sau đây dẫn tới việc các emthường mắc lỗi..

1.Không biết chính xác nghĩa của từ. (denotation)

Từ vựng trong tiếng Anh vô cùng phong phú. Ngoài những từ đồng nghĩa ra, có nhiều từ đồng âm nhưng cách viết và nghĩa khác nhau (homophones) như I/ eye, sun/ son.... Bên cạnh đó lại có những từ đồng âm và đồng cách viết mang nghĩa khác nhau (homonyms) như left, flat, saw, play, ...Do đó học sinh  gặp rất nhiều khó khăn trong việc hiểu tường tận, chính xác nghĩa của từ, sự khác nhau về cách dùng của những từ có nghĩa tương đồng cũng như từ loại của chúng. Chính điều này dẫn tới việc các em thường mắc lỗi về từ vựng khi sử dụng tiếng Anh.

2. Không nắm vững kiến thức ngữ pháp cơ bản.

Chính việc chưa nắm vững kiến thức ngữ pháp cơ bản đã làm cho học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc sử dụng thì, cấu trúc và văn phong khi học tiếng Anh. Do đó mắc lỗi là điều không thể tránh khỏi.

3. Sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ.

Điều dễ nhận thấy là  học sinh thường diễn đạt ý tưởng trong bài viết tiếng Anh theo lối tư duy tiếng Việt vì vốn từ ngữ hạn chế và hơn nữa, họ chưa có đủ kiến thức về văn hóa Anh. Do đó điều hiển nhiên xảy ra là họ sẽ dịch từng từ chứ không phải là việc sử dụng những cấu trúc câu tiếng Anh trong bài viết. Điều này làm cho bài viết dài dòng, không mạch lạc và đôi khi làm cho người đọc hiểu sai ý tưởng của người viết.

4.Không thực hành 4 kĩ năng thường xuyên.

Học viết cũng giống như học bơi, không ai có thể làm chuyện đó thay bạn. Bạn phải tự mình ngoi lên và ngụp xuống. Nên nhớ rằng việc viết cũng như việc bơi, bạn không phải chỉ làm một lần mà làm đi làm lại.’(Vivian M. R. trong cuốn ‘Reading,Writing and Thinking’). Học sinh chưa luyện tập các kỹ năng một cách thường xuyên nên họ không nhanh nhạy trong việc tìm ý cho bài viết, nói  và chưa có thói quen suy nghĩ tư duy bằng tiếng Anh trước khi vận dụng. Do đó họ mắc khá nhiều lỗi trong qui trình học của mình.

D. Biện pháp khắc phục

Sau đây là một vài gợi ý về biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp khi học kỹ năng Viết trong tiếng Anh của sinh viên không chuyên năm thứ nhất nhằm giúp họ tạo ra những bài viết không có lỗi ngôn ngữ, mang đầy đủ thông tin và giàu tính thuyết phục.

1. Nắm chắc kiến thức ngữ pháp cơ bản

Để có thể xây dựng một bài viết tốt, cái mà hs cần quan tâm ở đây không phải là cái gì đó xa vời, vượt quá khả năng mà chính là những kiến thức nền tảng trong sách giaos khoa hay giáo trình học để từ đó có thể khắc phục được lỗi trong việc sử dụng thì, cấu trúc, câu, từ, dấu câu, chính tả, ....Họ nên học từ những kiến thức đơn giản đến phức tạp một cách cẩn thận. Bất cứ khi nào bạn không chắc chắn về cách sử dụng của một từ, cụm từ hay dấu câu, bạn nên xem lại trong sách ngữ pháp hoặc tra trong từ điển để có thể sử dụng một cách chính xác.

2. Đọc sách báo, tài liệu

Tạo thói quen đọc sách báo vào thời gian rảnh rỗi là cần thiết nhưng nhớ rằng bạn nên đọc kỹ và sâu (Read intensively). Cách đọc này sẽ giúp chúng ta học được từ, cấu trúc câu cũng như lối diễn đạt và phong cách viết trong tiếng Anh để, ở một chừng mực nào đó, bạn có thể củng cố kiến thức về văn hóa Anh. Bằng cách này chúng ta sẽ thấy dễ dàng hơn khi diễn đạt và bỏ thói quen dịch từng từ. Sau đây là các bước quan trọng khi đọc sách:

- Tìm ra những cụm từ, cấu trúc câu đặc biệt và cách diễn đạt như người bản ngữ

- Gạch chân hoặc viết chúng vào vở

- Đặt câu với chúng và luyện tập thường xuyên cho đến khi bạn có thể đảm bảo là không quên và sử dụng chúng một cách hoàn hảo

3. Luyện dịch

Đây là cách rất tốt vì qua đó chúng ta học được từ, cấu trúc mới và cách diễn đạt chúng trong bài luận bằng tiếng Anh.

4. Kiểm tra lỗi sau khi viết

Có một số lỗi có thể trong quá trình viết ta không để ý (do viết nhầm, viết sai chính tả, ...) nhưng khi đọc lại ta sẽ phát hiện ra ngay. Do đó sẽ là rất quan trọng nếu các em chú ý lời nói,  đọc lại câu văn hay bài viết của mình sau khi hoàn thành.

5.Viết lại

Thực tế cho thấy phần nhiều học sinh không viết lại bài viết của mình sau khi được giáo viên sửa lỗi và đưa ra nhận xét. Họ chỉ lướt qua những lỗi đó mà không nhận thức được rằng nếu không dựa vào những nhận xét đó để viết lại bài viết của mình thì những nhận xét đó không có mấy tác dụng và khó có thể tránh mắc lỗi sau này.

Viết lại cũng là một cách hữu hiệu để giảm thiểu lỗi và bổ sung những ý tưởng mới mà trong bản viết lần đầu (first draft),  học sinh  còn chưa nghĩ ra. Hơn nữa, họ sẽ cảm thấy dễ dàng hơn vì các lỗi đã được giáo viên gạch chân và những ưu điểm, nhược điểm của sinh viên đã được chỉ ra nên họ có thể sửa lại cho đúng. Việc học sinh có thể điều chỉnh và bổ sung cho bài viết lại của mình cả về ngữ pháp và nội dung sẽ giúp họ phát triển kỹ năng Viết cho bản thân và hình thành được sự tự tin khi viết sau này.

6. Xác định lỗi được khắc phục thông qua cá nhân, nhóm hoặc cùng sự hỗ trợ đắc lực từ giáo viên.

Kết luận: Trong quá trình học cách sử dụng tiếng Anh như người bản ngữ, những người học tiếng Anh, học sinh thường gặp khá nhiều khó khăn. Họ thường lúng túng không biết cấu trúc ngữ pháp nào nên dùng cũng như cụm từ nào thích đáng với bài viết và do đó mắc lỗi là điều khó có thể tránh khỏi. Bằng việc chỉ rõ những lỗi thường gặp khi học của các em và phân tích nguyên nhân của chúng,  tôi hi vọng góp phần giúp người học tiếng Anh nói chung cũng như học sinh lớp Anhnói riêng sẽ khắc phục được những lỗi sai trọng tâm để xây dựng nên việc học tiếng anh dễ hiểu, rành mạch và hấp dẫn.

Tài liệu tham khảo

1.     Collins Publishers. (1992). English Usage. Harper Collins Publishers.

 

2.     Ferris, D.R. (1997). The Influence of Teacher Commentary on Student Revision. TESOL Quarterly.

 

3.     Michael Swan. (1995). Practical English Usage. Oxford University Press.

 

4.     Murphy, R. (1994). English Grammar in use. Cambridge University Press.

 

5.     Oxford Advanced Learner's Dictionary. (7thand 8th edition)

 

6.     Tom Hutchinson. (1999). Lifelines. Oxford University Press.

 

7.     Vivina, M. R. (1989). Reading, Writing and Thinking. Random House. New York.

8. Ngôn ngữ học đối  chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á.( Nguyễn Văn  Chiến-  Xuất bản 1992)

9. Contrastive Analysis in language.( by Dominique Willems, Bart Defrancq,Timothy Colleman and Dirk Noel)

10. Correct your English .

GV: Lâm Thị Thanh Thủy

 

 

 

 

 

 

 

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm