Home Tổ chuyên môn Anh Thư viện chuyên môn Một số Tính từ chỉ kích thước trong mô tả người Anh- Việt

Một số Tính từ chỉ kích thước trong mô tả người Anh- Việt

Một số Tính từ chỉ kích thước trong mô tả người Anh- Việt 

Võ Thanh Phong  

1. Đặt vấn đề     

Sự vật trong thế giới vật chất tiềm ẩn trong nó rất nhiều thuộc tính. Một trong những thuộc tính dễ thấy nhất là thuộc tính kích thước- tồn tại trong không gian và thời gian. Người ta tìm thấy nét nghĩa không gian có trong hầu hết các đơn vị từ loại. Riêng thuộc tính kích thước được ẩn chứa chủ yếu trong một số tính từ mà ý nghi• cơ bản của chúng có tác dụng liên kết nhóm từ là độ dài kích thước. Đó là những tính từ tiếng Anh: long- short, tall- short, high- low, deep- shallow, wide- broad- narrow, thick- thin và các tính từ tiếng Việt tương đương là: dài- ngắn, cao- thấp, sâu- nông, rộng- hẹp, dày- mỏng. Đây là những đơn vị tính từ chỉ kích thước cơ bản bộc lộ nhiều thuộc tính quan trọng của không gian ngôn ngữ: theo phương thẳng đứng (vertical dimension), phương nằm ngang (horizonal dimension) và ba chiều là: chiều dài (length), chiều rộng (width) và chiều cao (height).

 

     Tuy nhiên cách nhận thức của con ngươì về thế giới lại không hoàn toàn giống nhau mà có phần tương đồng và có phần dị biệt. Chính điều này đã gây ra không ít khó khăn cho những người đang trong quá trình tiềp cận một ngôn ngữ mới. Hiện nay nhu câù dạy và học tiếng Anh rất lớn, đòi hỏi phải nghiên cứu sâu các trường từ vựng trong đó có tiểu trường từ chỉ kích thước, một trường từ vựng có nội hàm ngữ nghĩa trừu tượng, không dễ dàng nắm bắt. Chẳng hạn, khi chuyển dịch phát ngôn sau sang tiếng Anh "Bạn có biết toà nhà kia cao bao nhiêu không?" ngưòi Việt học tiếng Anh có thể sẽ lúng túng trong việc lựa chọn từ tương ứng là tall hay high. Trong khi đó câu này sẽ được người Anh biểu đạt là" How high is that building?"- tall không thể thay thế cho high.

      Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đi xem xét nhóm tính từ nêu trên trong việc mô tả người- khi chúng tổ hợp với các danh từ  chỉ người và bộ phận cơ thể người với chức năng định ngữ và khi chúng kết hợp với các đại từ nhân xưng với chức năng vị ngữ. 2. Ngữ nghĩa và cách sử dụng nhóm tính từ chỉ kích thước trong mô tả người.   

Đặc trưng ngữ nghiă của nhóm tính từ chỉ kích thước từ góc độ ngữ nghĩa ngữ dụng là bao hàm hai nét nghĩa chính: độ dài (extent) và vị trí (position). Cấu trúc ngữ nghĩa cơ bản của hai nhóm tính từ chỉ kích thước trong tiếng Anh và tiếng Việt là tương đối giống nhau. Phần khác biệt nằm ở dấu hiệu kết hợp. Đây chính là phạm vi để so sánh đối chiếu.

 

    Khi biểu đạt chiều cao của người, người Anh và người Việt có nhiều điểm tương đồng. Con người thường được phân chia thành hai giai đoạn là: trẻ thơ (young babies) và người lớn (adults).Từ khi mới chào đời cho tới lúc tự bước đi vững vàng, tư tế chính tắc của con người trong giai đoạn này không phải là đứng thẳng (not upright) nên người Anh thường dùng các từ long- short, còn người Việt sử dụng cặp từ dài- ngắn để chỉ độ dài của đứa bé từ chân tới đầu theo phương nằm ngang, đối lập với phương thẳng đứng,

 ví dụ:

This baby is 18 inches long.

(Cháu bé này dài 18 insơ)                                               

   Người Việt cũng có cách nói tương tự:

             Cháu tôi mới được gần hai tháng mà đ• dài 65 phân    Long- short ngoài việc được sử dụng để miêu tả chiều cao của người khi còn nhỏ, chúng còn kết hợp với hầu hết các từ chỉ bộ phận cơ thể người ở tư thế trùng với phương thẳng đứng. Chẳng hạn như: long (face ,eye, nose, tongue, tooth, neck, back, arm, hand, leg, foot, finger, fingermail, toe, toenail, hair, hips…). Dài- ngắn tiếng Việt cũng có những kết hợp tương tự: (mặt, mắt, mũi, lưỡi, răng, cổ, lưng, tay, cẳng chân, bàn chân, ngón tay, móng tay, ngón chân, móng chân, tóc, ruột…) dài

   

Khi miêu tả người nào đó cao, gầy, có đôi chân dài thì người Anh thường lấy đặc điểm của đôi chân dài "long legs" để chỉ biệt hiệu cho người đó.

 

Ann was tall and thin. Everybody called her"long Annie"which she didn't like.  (Ann cao và gầy. Mọi người gọi bạn ấy là"Ann kều". Bạn ấy chẳng thích điều đó.)

 

   Trong ngữ cảnh đó người Việt thường gán cho người có hình dáng như vậy là cao kều, kều hoặc sếu. Khi nhấn mạnh chiều cao quá mức bình thường, gây mất cảm giác cân đối, người Việt thường thêm các phụ từ nghều, lêu đêu, ngồng…Người Việt cũng sử dụng từ dài để miêu tả kích thước bộ phận chân, lưng mặc dù chúng có tư thế thẳng đứng, chẳng hạn:

   Muôn nghìn chớ lấy học trò,                              

  Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.     

Long- short không được sử dụng để miêu tả chiều cao của người lớn (adulds) với  tư thế cố hữu thẳng đứng "upright" nhưng nhóm từ này để miêu tả bóng người (shadow).

 

 Early in the morning or late in the afternoon, we can see that our shadows are very long. (Lúc sáng sớm hay chiều muộn, chúng ta nhìn thấy bóng mình rất dài).

 

    Đối với người Việt cũng có cách biểu đạt tương tự. Tuy nhiên, trong những ngữ cảnh trang trọng, hoặc khi bóng người được in trên tường theo phương thẳng đứng thì bóng thường được miêu tả là "bóng cao", chẳng hạn:

                                 Bóng Bác cao lồng lộng

                                Ấm hơn ngọn lửa hồng.

 

   Con người khi còn trong những năm tháng đầu đời được miêu tả về chiều cao là dài (hoặc ngắn). Khi trưởng thành tư thế chính tắc thường xuyên là thẳng đứng (upright), người Anh và người Việt đều miêu tả độ dài thẳng đứng từ chân tới đầu là tall, cao (hoặc short, thấp). Sự biểu đạt này không thay đổi theo tư thế của người, cho dù người đó đang đứng, đi lại, ngồi hay nằm người ta vẫn cứ miêu tả là cao hay thấp. Một cô gái đang nằm trên b•i biển cũng không miêu tả là She is five feet long (Cô ấy dài năm bộ) mặc dù cô gái không ở vị trí thẳng đứng. Điều này không giống như cây cối và những vật khác như thang, cọc, gậy v.v. khi để chúng ở vị trí không thẳng đứng (not upright) sẽ được miêu tả là long (dài). Đối với tiếng Việt tình hình cũng như vậy.

 

   Trong tiếng Anh tall- short thay thế high-low khi biểu đạt chiều cao của người lớn tức độ dài từ chân tới đầu theo phương thẳng đứng.

 

                 He is tall and handsome. (Anh ấy cao và đẹp trai).

    Cao hay thấp là thang độ đánh giá qua một chuẩn tiềm ẩn. Chuẩn (norm) tiềm ẩn phụ thuộc vào thực thể được biểu đạt bằng danh từ (hoặc đại từ tương đương) mà tính từ kết hợp. Thực thể lại có giới tính và chủng loại khác nhau. Chẳng hạn, chuẩn của phụ nữ, nam giới, người vị thành niên, người châu Âu, người châu A là khác nhau. Chuẩn độ cao của người Việt trong thời điểm hiện nay(theo báo sinh viên số Tết 2004) là nam 1m63 và nữ 1m53. Nói Chị ấy cao và xinh đẹp tức chiều cao của chị ấy phải trên 1m53. Tuy nhiên, chuẩn độ cao của mỗi dân tộc không hoàn toàn như nhau. Chuẩn độ cao không những phụ thuộc vào danh từ biểu vật mà tính từ kết hợp, mà còn phụ thuộc vào việc thực thể đó ở trong một khung cảnh thực tại nào, trong một không gian và thời gian nhất định nào. Chuẩn độ cao của các dân tộc cũng thay đổi so với trước đây do hoàn cảnh và điều kiện sống được cải thiện hơn so với trước.

  

Sự cảm nhận về chiều cao đôi khi cũng bị ảnh hưởng bởi tỉ lệ các chiều trong nội bộ một vật thể hoặc bị ảnh hưởng bởi các tham tố tham gia trong một khung cảnh cụ thể nào đó. Chẳng hạn, vẫn cùng một con người đó khi thân hình mập lên đáng kể thì trông không có cảm giác cao như trước đó hay khi hai người cùng cao 1m70 đứng gần nhau, một người gầy và một người mập, thì người có thân hình gầy cho ta cảm giác cao, còn người kia cho ta cảm giác to. Ngoài ra trang phục cũng gây cảm nhận khác nhau về độ cao- thấp, thường thì khi mặc áo quần bó sát hoặc áo hơi ngắn, quần hơi dài thì trông có vẻ cao hơn so với bình thường và ngược lại.

 

           These clothes are for you. It'll get taller when you wear them.

 

         (Mẹ tặng con bộ quần áo này. Khi mặc chúng vào con trông sẽ cao hơn đấy)

    Một điều cần phải nói thêm rằng, việc xác định chiều cao của vật thể cũng mang tính chủ quan của người quan sát. Chẳng hạn trước một cái bàn hoặc một chiếc ghế, người có chiều cao lớn thì cho rằng cái bàn này không cao, nhưng người thấp thì lại cho là cao vì người nói đã lấy  chiều cao của của mình làm căn cứ khi đánh giá.  

Ngưòi Anh tri nhận không gian có phần khác với người Việt. Về ý niệm cao, người Anh có hai hình dung: tall-short cho độ dài từ đáy hoặc từ chân tới đỉnh, còn high- low cho khoảng cách từ điểm nhất định cách điểm gốc quy chiếu một khoảng cách nào đó. Khi muốn biểu đạt số đo thẳng đứng của người, người Anh thường đặt số đo đằng trước tính từ, người Việt lại để số đo phía sau tính từ. So sánh:

                          "She is 5 feet tall." và  " Cô ấy cao 1m70."

   

Muốn biết về người khác cao bao nhiêu, người Anh dùng từ tall còn người Việt dùng cao để hỏi How tall is she (he)? Chị (anh) ấy cao bao nhiêu? Câu hỏi này có mục đích để biết kích thước chiều cao chứ chưa hẳn người đó đ• cao. Nhưng người ta lại không sử dụng từ short (thấp) để hỏi. Không ai hỏi Chị (anh) thấp bao nhiêu? How short is she (he)? bởi vì khi hỏi như vậy người hỏi đ• tiền giả định người bị hỏi là thấp rồi. Khi muốn nhấn mạnh bề ngang của người, người Anh thường thêm các tính từ chỉ kích cở (size) như big, lage, broad, small, thin…

      Mr Kent is small and thin, and his wife is big and tall (Ông Kent nhỏ nhắn và gầy yếu còn vợ ông thì cao to), người Việt thì lại thường thêm các từ to, nhỏ, gầy…     Như trên đã xét, tall- short có ngữ nghĩa là" độ dài thẳng đứng hướng lên trên". High-low được người Anh sử dụng để diển tả vị trí của người, còn trong tiếng Việt chỉ một cặp từ cao- thấp nhưng hàm ẩn cả hai thông tin độ dài (extent) và vị trí (position)- và trong một số trường hợp đ• gây ra sự mơ hồ về nghĩa. Chẳng hạn, trong rạp xiếc con nói với mẹ:" Cô diễn viễn viên xiếc đi trên dây cao, mẹ nhỉ!" Trong trường hợp này người mẹ có thể sẽ lưỡng lự không biết ý người con muốn nói cô diễn viên cao (nghĩa độ dài) hay đi trên dây cao (nghĩa vị trí).   

High-low, tall- short có sự cạnh tranh giành vị trí chủ đạo với các đặc trưng nghĩa khác nhau. Tall- short thiên về nghĩa độ dài (extent), high- low thì thiên về nghĩa vị trí (position). High- low cho ta thông tin của vật thể ở một độ cao nào đó so với mặt đất hoặc mặt biển, bên cạnh đó các bộ phận bất khả ly gắn với vật thể cũng được high- low biểu đạt theo ý nghĩa vị trí. Tuy nhiên, một số bộ phận trên cơ thể người cũng được biểu đạt theo ý nghĩa độ dài. Có điều nghĩa độ dài ít được chú trọng hơn là vẻ đẹp (beauty). Có thể kể ra đây một số kết hợp của high với bộ phận cơ thể người: high forehead (trán cao), high cheekbones (gò má cao), high nose (mũi cao), high neck (cổ cao), high bosom (ngực cao), high stomach (bụng phệ), high hands (bàn tay múp míp), high hipps (mông to), high feet (chân múp míp)…

 

    Đối với các bộ phận cơ thể người, người Việt có xu hướng thiên về miêu tả vẻ đẹp hơn là chú ý đến kích thước- đặc biệt khi nói về các bộ phận biểu lộ sắc đẹp của phái đẹp như cổ, chân…như: cổ cao, chân cao… (chứ không phải là cổ dài, chân dài..) Cụm từ cổ cao, chân cao có giá trị miêu tả nâng tính nghệ thuật thẩm mỹ của bộ phận cơ thể lên hơn là cụm từ cổ dài, chân dài vốn chỉ dáng vẻ không cân đối, làm mất vẻ đẹp. Tính từ cao mang sắc thái biểu cảm, nâng vẻ đẹp lên trên mức bình thường.

     Một điều cần nói thêm rằng đối với những bộ phận cơ thể người trong tiếng Anh thường "nhô" ra được người Anh biểu đạt là high (hoặc low). Ngoài từ high, những từ khác được dùng để thay thế như prominent, jutting, chẳng hạn, trong sự diễn đạt gò má cao (high, prominent, jutting cheekbones). Đối với người Việt thì phần lớn các bộ phận cơ thể nhô ra được miêu tả là cao (hoặc thấp). Bên cạnh đó một số bộ phận lại có cách miêu tả khác như lưng gù, trán dô, bụng phệ, vai u thịt bắp, tay chân múp míp… với ý chỉ kích thước không cân đối. Trong tiếng Việt, sự đảo vị trí của các từ cao- thấp khi kết hợp với danh từ chỉ bộ phận cơ thể người có thể làm thay đổi một phần ý nghĩa như tay cao (chỉ vị trí) và cao tay (chỉ trình độ).    

Deep- shallow, khi được dùng với nét nghĩa về độ dài thường kết hợp với các danh từ chỉ vật thể rỗng, lõm, miệng hở, có tác dụng chứa đựng, các bộ phận hõm xuống thuộc cơ thể người trong đó bao gồm cả những biến cố trên cơ thể người:  deep eyes (mắt sâu), deep dimple (núm đồng tiền sâu), deep chest (ngực nở hai bên ức), deep wound (vết thương sâu), deep scar (sẹo sâu), deep mark (vết roi lằn sâu).

      Nhóm từ tiếp theo trong nhóm tính từ chỉ kích thước được nhắc đến là wide- broad- narrow với ý nghĩa biểu đạt khoảng cách từ cạnh này đến cạnh kia, mép này đến mép kia, thường vuông góc với chiều dài trong một vật. Nhóm từ này có thể kết hợp với một số lượng lớn danh từ biểu thị các kiểu loại thực thể. Riêng wide có khả năng sử dụng nói về nhiều loại thực thể hơn broad. Broad thường kết hợp với những từ chỉ vật thể có bề mặt liền (solid). Tuy nhiên, trong một số trường hợp vì có nét khu biệt riêng trong cấu trúc ngữ nghĩa nên wide- broad không thể được sử dụng thay thế cho nhau. Ta có wide mouth (miệng rộng), wide ears (tai to), wide face (mặt to), wide jaws (hàm rộng), wide head (đầu to) nhưng lại có broad chest (ngực vạm vỡ), broad shoulder (vai rộng), broad face (mặt to), broad back (lưng rộng).Với wide ear, wide eye thường được sử dụng với sắc thái biểu lộ tình cảm, sự ngạc nhiên trước một sự việc nào đó.    

Thick- thin với nét nghĩa về độ dài, được sử dụng để miêu tả khoảng cách giữa hai bề mặt, hai cạnh đối lập nhau hoặc số lượng lớn các đơn vị  phân bố kề sát nhau (mật độ bố trí). Với các danh từ chỉ bộ phận cơ thể người thick- thin có các kết hợp sau: thick body (mình to), thick skin (da dày), thick eye brows (lông mày rậm), thick eyelashes (lông mi dày), thick hair (tóc dày), thick hand (bàn tay to), thick legs (chân to), thick finger (ngón tay to)…

      Người Anh hình dung một vật thể dày hay mỏng có phần khác với người Việt. Ngưòi Việt thường nhận thức những vật thể có mặt cắt ở cạnh, thường là hình vuông hoặc hình bình hành. Phần cắt giữa hai bề mặt thường được miêu tả là dày hay mỏng. Đối với người thì phần thân giữa (body) cũng được biểu đạt là mình dày. Người Anh lại có thêm một hình dung nữa là đối vơí cả vật hình tròn cũng được biểu đạt là dày. Trường hợp này người Việt nói là to. Khi chuyển sang tiếng Việt thick- thin thường được hiểu là dày- mỏng, to- nhỏ. Thick trong các kết hợp thick arm, thick hand không được chuyển dịch là dày mà là to hoặc đầy đặn. 3. Kết luận     Người Anh và người Việt có sự nhận thức khá giống nhau về kích thước của con người. Từ cao (hoặc thấp) tiếng Việt nội hàm cả nghĩa độ dài và vị trí, đồng thời còn phái sinh ra những nghĩa bóng khác trong khi tiếng Anh có hai cặp từ tương đương là tall- short có nghĩa về độ dài và high- low có nghĩa về vị trí. Với rộng- hẹp cũng vậy. Trường hợp từ rộng của tiếng Việt tương đương các từ wide và broad cũng cho ta thấy sự khác biệt về nhận thức không gian trong hai ngôn ngữ.      Như vậy, chúng ta đã xem xét các tính từ chỉ kích thước khi được sử dụng để nói về con người nói chung và bộ phận cơ thể người nói riêng. Về mặt cấu trúc ngữ nghĩa, nhóm tính từ chỉ kích thước trong tiếng Anh và tiếng Việt về cơ bản là giống nhau. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có sự khác biệt về ý nghĩa. Việc nắm vững những nét khu biệt ngữ nghĩa và cách sử dụng của nhóm tính từ chỉ kích thước thông qua sự kết hợp với các danh từ (hoặc đại từ nhân xưng khi tính từ làm vị ngữ trong câu) như đ• được đề cập ở trong bài viết này sẽ giúp người học tiếng Anh cũng như người học tiếng Việt có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về nhóm từ này.                                                            Huế, tháng 10 năm 2005
 

Comments 

 
#2 my huong eahleo 2012-02-21 12:45
minh doc xong, tinh comment " rat hay" thi thay co nguoi viet nhu vay roi
 
 
#1 duy 2012-01-19 19:54
rat hay
 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm