Home Tổ chuyên môn Địa Hoạt động Thực trạng đói nghèo của dân tộc Bru – Vân Kiều

Thực trạng đói nghèo của dân tộc Bru – Vân Kiều

THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO DÂN TỘC BRU – VÂN KIỀU – XÃ TRỌNG HÓA – HUYỆN MINH HÓA - TỈNH QUẢNG BÌNH

Tóm tắt: Bài báo đề cập đến thực trạng đói nghèo của dân tộc Bru – Vân Kiều – xã Trọng Hóa – huyện Minh Hóa – tỉnh Quảng Bình đang diễn ra rất nghiêm trọng và ngày càng bức thiết. Qua đây bài báo cũng đưa ra một số giải pháp xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao đời sống cho dân tộc Bru – Vân Kiều.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Quảng Bình là địa bàn sinh sống của các đồng bào dân tộc thiểu số, ở đây tình trạng đói nghèo đang diễn ra nghiêm trọng và ngày càng bức thiết. Trong quá trình phát triển kinh tế, Quảng Bình đã đưa ra nhiều chính sách xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số Bru – Vân Kiều – xã Trọng Hóa – huyện Minh Hóa. Tuy nhiên những thành tựu đạt được mới chỉ là bước đầu, đời sống của đồng bào vẫn còn khó khăn. Để đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số Bru – Vân Kiều được cải thiện và phát triển hơn, vấn đề đói nghèo và xoá đói giảm nghèo là rất quan trọng.

2. NỘI DUNG

2.1. Thực trạng đói nghèo của dân tộc Bru – Vân Kiều ở xã Trọng Hóa – huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Tổng số hộ nghèo là 567 hộ chiếm 94,3% tổng số hộ toàn xã, với tổng số khẩu nghèo 3.197 khẩu. Trong đó, dân tộc Bru – Vân Kiều chiếm tỷ lệ 100% so với tổng số hộ nghèo trên địa bàn xã.

Giai đoạn 2007 – 2012, tỉ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt. Từ 99,1% (2007) xuống 94,3% (2012), trung bình mỗi năm giảm 1,2%. Tuy nhiên, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao so với mức trung bình của cả nước 11% (2012), cao hơn 83,3%. Đói nghèo tập trung ở các hộ thuần nông, chiếm 99% tổng số hộ nghèo của dân tộc Bru – Vân Kiều. [3]

2.1.2. Tình hình đời sống hộ nghèo

- Thu nhập

Theo điều tra năm 2012, thu nhập bình quân hộ nghèo là : 5,13 triệu đồng/năm. Thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo dân tộc Bru – Vân Kiều là 910.000 đồng/người/năm. Thu nhập lương thực bình quân đầu người nghèo là 119kg/người/năm.

- Chi tiêu

Do thu nhập thấp nên chi tiêu của các gia đình nghèo cũng rất hạn chế. Các hộ nghèo phần lớn tập trung cho nhu cầu tối thiểu của việc ăn, mặc, còn các nhu cầu khác rất ít, thậm chí không có. Hầu hết các gia đình nghèo chi tiêu cho ăn uống chiếm khoảng 90% tổng chi tiêu. Khi đau ốm người dân chủ yếu đi khám chữa bệnh ở trạm xá (68,2%) và thầy phù thuỷ, thầy lang (29,7%), đi bệnh viện huyện chiếm tỉ lệ rất thấp (2,1%). Do thu nhập thấp nên các gia đình đói nghèo hầu như không có tích lũy, thậm chí thâm hụt. Đặc biệt chi tiêu cho giáo dục rất thấp. Vì vậy con cái của hộ nghèo khó có điều kiện học lên cao. [3]

- Tình hình nhà ở và tiện nghi sinh hoạt

Hầu hết các hộ gia đình sống trong những ngôi nhà bán kiên cố chiếm 76,02% tổng số các ngôi nhà và được xây dựng chủ yếu từ năm 2000 đến nay. Mức độ an toàn trước những biến động tự nhiên như gió mạnh, bão, mưa to, lũ lụt… rất thấp, đe dọa đến tính mạng và tài sản của người dân nghèo. Những ngôi nhà bán kiên cố, mối mọt, rách nát… rất dễ bị sụp đổ, tốc mái, sụt lỡ trước ảnh hưởng của gió mưa, bảo lụt… vật liệu chính làm mái nhà chủ yếu là tấm lợp (62,3%). Tỉ lệ nhà tạm bợ của hộ nghèo 23,98%.

Phương tiện đi lại chủ yếu là xe đạp, bình quân mỗi hộ nghèo chỉ có 1,67 xe đạp/hộ. Hầu hết các hộ nghèo không có xe máy làm hạn chế đến việc đi lại, sản xuất, buôn bán.

Các thiết bị nghe nhìn như ti vi, radio, catset, đầu video… rất ít và nghèo nàn, bình quân 0,45 cái/hộ. Thậm chí nếu có thì đã qua sử dụng, cũ kĩ, thiếu thốn về nhiên liệu, năng lượng (xăng, điện…). Bên cạnh đó, các hộ nghèo dân tộc Bru – Vân Kiều không có điện thoại, tủ lạnh, đời sống tinh thần hộ nghèo càng trở nên nghèo nàn, lạc hậu, nguồn thức ăn, chất lượng bữa ăn thấp.

Phần lớn dân tộc Bru – Vân Kiều sử dụng công trình nước sinh hoạt tập trung, nước giếng và bể chứa, nguồn nước đặc biệt rất khan hiếm vào mùa khô. Tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh chiếm 44,09%. Nguồn nước hợp vệ sinh chiếm tỉ lệ chưa cao vì số lượng bà con dân tộc sử dụng bể chứa nước và giếng đào hợp vệ sinh ít. [3]

- Lao động và các hộ nhân khẩu của lao động

Hộ nghèo dân tộc Bru – Vân Kiều thường có quy mô gia đình lớn, đông người ăn theo và trình độ học vấn rất thấp.

Bình quân nhân khẩu/hộ đói nghèo lớn trong khi đó bình quân lao động lại rất thấp. Bình quân 1 lao động hộ nghèo phải nuôi 2,97 người. Do vậy, số người phụ thuộc ở các hộ nghèo khá cao. Điều này làm cho đời sống hộ nghèo rất thiếu thốn, khó khăn và bấp bênh khi lao động chính của hộ nghèo trở nên thất nghiệp do đau ốm… Sinh đẻ không có kế hoạch, đông người ăn theo là gánh nặng của hộ nghèo dân tộc Bru – Vân Kiều. [3]

- Giáo dục và y tế

Hầu hết các hộ nghèo có trình độ học vấn thấp. Phần lớn tốt nghiệp tiểu học (65,2%) và một số ít mù chữ (19,8%), gây khó khăn về khả năng tiếp thu, nắm bắt khoa học công nghệ và nhạy bén với thị trường để tìm kiếm thu nhập.

Năm 2012, trạm xá của xã chỉ mới có 8 giường bệnh, 1 bác sỹ, khả năng đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho bà con dân tộc Bru – Vân Kiều hạn chế. Năm 2012, tỉ lệ trẻ em dưới 1 tuổi bị suy dinh dưỡng rất cao là 65%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 45%. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng vacxin là 68%. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiêm phòng vacxin 64,2%. Công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình triển khai đạt hiệu quả chưa cao, chưa xây dựng được mô hình xã không sinh con thứ 3, tỷ lệ sinh con thứ 3 trong năm trên 53%. [3]

2.1.3. Các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo

-  Nguyên nhân khách quan

  • Tự nhiên

Trọng Hóa là một xã biên giới, rẻo cao, địa hình dốc, đất đai để sản xuất nông nghiệp ít, khí hậu khắc nghiệt, không thuận lợi cho việc canh tác và năng suất lao động kém. Độ ẩm, gió Lào, độ mưa, độ lạnh luôn gây khó khăn đối với cây trồng, vật nuôi, mất mùa, bệnh dịch… dẫn đến năng suất thấp, ít hiệu quả. Hiện nay ở vùng đất này diện tích hoang hóa chưa được khai thác còn rất lớn chiếm 41.27% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã. Nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt còn thiếu, đặc biệt là vào mùa khô.        Rủi ro và những phát sinh bất thường của thời tiết làm cho đất đai dễ bị sói mòn, bạc màu, rừng bị tàn phá thu hẹp dần. Thêm vào đó là thiên tai thường xảy ra hàng năm và bất ngờ đẩy cuộc sống của người dân vào hoàn cảnh rất bấp bênh.

  • Kinh tế - xã hội

Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu xong hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao và chưa đồng bộ. Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình, quy mô sản xuất nhỏ, thiết bị, dụng cụ lao động còn mang tính truyền thống, thô sơ và lạc hậu.

Thiếu vốn, cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất  yếu. Mạng lưới giao thông chưa được đầu tư phát triển, nhiều công trình bị xuống cấp. Phân bón, giống, công tác hướng dẫn kĩ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp kém. Vì vậy các hộ nghèo không có điều kiện đầu tư cho tổ chức và mở rộng sản xuất. Làm cho năng xuất lao động không cao

Cơ sở y tế và lực lượng bác sĩ và y tá của trạm xá thấp, khả năng đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân hạn chế. Công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình triển khai đạt hiệu quả chưa cao. [3]

-  Nguyên nhân chủ quan

Hầu hết các gia đình đều đông con, sản xuất chỉ đáp ứng đủ nhu cầu gia đình, thậm chí thiếu ăn, tích lũy không có. Do vậy không có khả năng đầu tư cho sản xuất. Không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục.

Thiếu kinh nghiệm làm ăn, không nắm bắt nhu cầu thị trường, thiếu hiểu biết về cách thức làm ăn, lựa chọn mô hình sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình dẫn đến đầu tư sản xuất không hiệu quả.

Đói nghèo còn do bệnh tật, ốm đau, các rủi ro do tai nạn giao thông. Do điều kiện y tế, chăm sóc sức khỏe không được đảm bảo nên thường xuyên mắc một số bệnh như sốt rét, ỉa chảy... đặc biệt lại sống trong môi trường không đảm bảo vệ sinh nhà cửa, an toàn thực phẩm nên cơ thể suy nhược, thiếu dinh dưỡng. Tai nạn, ốm  đau nên các gia đình phải chi phí thuốc thang, thức ăn và mất đi sức lao động chính dẫn đến mất nguồn thu nhập chính của gia đình. [1]

Năng lực và trình độ dân trí nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số cán bộ còn thấp, đặc biệt là cán bộ thôn, bản, nên việc tổ chức ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện chậm, chưa có hiệu quả.

2.2. Một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho dân tộc Bru – vân Kiều

2.2.1. Giải pháp về vốn

Tuỳ theo yêu cầu sản xuất, dịch vụ mà cho các hộ vay mức nhiều hay ít, song mức trung bình từ 3 – 7 triệu cho một hộ sản xuất với các dự án nhỏ tạo việc làm tại chỗ. Với các dự án hình thành tổ hợp sản xuất giữa các hộ nghèo thì mức vay có thể cao hơn.

Thời gian cho vay không quá ngắn để người nghèo sử dụng vốn vay có hiệu quả. Tuỳ thuộc vào mục đích vay của người nghèo để có thời hạn vay phù hợp. Nếu vây để trồng cây hàng năm, chăn nuôi lợn, gia cầm thời gian vay 1 – 2 năm. Nhưng nếu vay để chăn nuôi gia súc lớn thì 3 – 5 năm, nếu để trồng rừng kinh doanh thì thời hạn dài hơn.

Phương pháp cấp tiền vay nên có những thay đổi theo chiều hướng chuyển dần từ tiền sang hiện vật. Mô hình cho vay bằng hiện vật như: cho vay bò mẹ trả bò con, vay cây con giống… có hiệu quả hơn giúp đồng bào dân tộc sử dụng vốn đúng mục đích.

Mức lãi suất để ở mức thấp nhất, thậm chí không lấy lãi nhưng lại ra điều kiện cho bà con dân tộc cuối mùa vụ thu hoạch được sản phẩm gì nếu không sẽ rút vốn. [2]

2.2.2. Chuyển dịch trong cơ cấu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

* Nông, lâm, ngư nghiệp

- Trồng trọt

Ở những vùng có điều kiện sản xuất lương thực cần tăng cường thâm canh, mở rộng diện tích ở nơi có điều kiện thủy lợi, đưa các giống lúa, ngô năng suất cao để đảm bảo an ninh lương thực; những vùng không có khả năng phát triển cây lương thực thì phát triển các cây lương thực có củ, quả vừa có thể thay lương thực, vừa làm hàng hóa như sắn, khoai lang và các loại khoai khác như: khoai môn, từ, tía, dong riềng, sắn dây để đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ.

Chú trọng đưa các giống có năng suất cao và thâm canh các loại cây công nghiệp ngắn ngày, chú trọng các loại cây là thế mạnh của địa phương như cây lạc, khuyến khích trồng các loại cây họ đỗ, mây tắt… Đẩy mạnh phát triển cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả đã được xác định về hiệu quả kinh tế như: cây bản địa, hồ tiêu, bưởi Phúc Trạch, nhãn… để khai thác tốt hiệu quả đất đai.

- Chăn nuôi – nuôi trồng thủy sản

Tăng tổng đàn gia súc, gia cầm và nâng cao thể trọng và chất lượng thịt, làm dịch vụ cho việc xã hội hóa phát triển chăn nuôi, tiêu thụ sản phẩm và công tác thú y; chú trọng chăn nuôi tập trung, hạn chế và đi đến xóa bỏ chăn nuôi thả rong trâu bò.

Chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh; hỗ trợ việc phát triển các loại gia súc, gia cầm truyền thống, có chất lượng thịt cao hấp dẫn người tiêu dùng. Tiếp tục nhân rộng các mô hình phát triển nghề nuôi ong lấy mật, nuôi cá ao, hồ ở những nơi có điều kiện và nuôi các loại thủy sản đặc sản nước ngọt khác.

- Lâm nghiệp

Giao đất rừng cho nhân dân, các doanh nghiệp quản lý sử dụng, tập trung phát triển lâm nghiệp trên diện rộng. Tăng cường quản lý, bảo vệ, chăm sóc, khoanh nuôi; phát động phong trào làm vườn rừng, vườn đồi hộ gia đình, phát triển kinh tế…

Đối với rừng trồng, lựa chọn các giống cây lâm nghiệp chóng đưa lại hiệu quả và cho hiệu quả kinh tế cao, có tác dụng phòng hộ lớn; kết hợp với cải tạo đất, chóng xói mòn và đa dạng sinh học.

Đối với rừng khoanh nuôi, thực hiện chủ trương lấy ngắn nuôi dài, trồng dặm các loài cây song, mây, dược liệu, khúc khắc, tre lấy măng… với trồng dặm các loại cây lấy gỗ để giải quyết đời sống trước mắt và lâu dài của nhân dân tại chổ.

* Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Thực hiện tốt chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển tiểu thủ công nghiệp như: xây dựng các cụm điểm tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống, để có điều kiện hình thành các các cơ sở ngành nghề nông thôn như: thủ công mỹ nghệ, đan lát, xay xát, xây dựng, vận chuyển… các nghề truyền thống khác.   Tạo điều kiện và phối hợp tốt với đơn vị triển khai dự án thủy điện La Trọng nhằm sớm đưa nhà máy thủy điện La Trọng vào vận hành, phát huy tốt hiệu quả công trình, tận dụng khả năng nguồn nước sau công trình cho tưới tiêu, sinh hoạt.

* Thương mại và dịch vụ

Phát triển chợ xã, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm địa phương, khai thác thế mạnh về thương mại tại khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo.

Ngoài ra cần phát triển mạng lưới tiểu thương, kinh tế tư nhân đến tận bản làng nhằm đưa các mặt hàng thiết yếu đến được với đồng bào dân tộc Bru – Vân Kiều. Chú trọng việc hỗ trợ, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho các doanh nghiệp thương mại.

2.2.3. Giải pháp việc làm

Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động qua các chương trình tổ chức tập huấn ngành nghề ngắn hạn và dài hạn theo chương trình đào tạo nâng cao trình độ lao động của huyện và tỉnh.

Khuyến khích và giúp đỡ các hợp tác xã phát triển, phát huy kinh tế hộ gia đình, VACR để tạo thêm việc làm cho người dân.

Thông qua các trung tâm dịch vụ, giới thiệu việc làm, mở rộng quan hệ với các đối tác sử dụng lao động ở các tỉnh và các nước khác, đưa lao động sang tỉnh khác hoặc ra nước ngoài làm việc. [2]

2.2.4. Giải pháp kế hoạch hoá gia đình

Tuyên truyền giáo dục cho bà con dân tộc Bru – Vân Kiều nhận thức được hậu quả của đông con. Kết hợp với các tổ chức đoàn thể ở trên địa bàn xã vận động bà con xoá bỏ quan niệm lạc hậu, xây dựng nếp sống mới, thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá gia đình

Triển khai tốt dự án hỗ trợ kế hoạch hoá gia đình đối với các hộ sinh con thứ 4, thứ 5 bằng các phương pháp định sản, đặt vòng tránh thai, uống thuốc, sử dụng bao cao su. Có biện pháp hành chính xử phạt nếu sinh nhiều con. [1]

2.2.5. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật

* Kết cấu hạ tầng kinh tế

Về giao thông, tiếp tục kiên cố hóa hoàn chỉnh mạng lưới giao thông đến trung tâm xã và làng bản, đảm bảo ô tô vào tận bản suốt bốn mùa, tăng cường vận tải, lưu thông hàng hóa, mở mang dịch vụ bằng nguồn vốn Chương trình 135, vốn các dự án ADB. Phát động phong trào bê tông hóa đường giao thông nông thôn bằng vốn dân góp. Xây dựng mới các công trình thuỷ lợi và kênh mương ở các thôn, bản. Tiếp tục hỗ trợ xây dựng các công trình nước tự chảy, nước sạch ở các bản chưa được đầu tư, đảm bảo nước sinh hoạt cho cộng đồng dân cư hợp vệ sinh.

Tiếp tục triển khai xây dựng điện lưới sinh hoạt ở một số ít các thôn, bản còn chưa có điện để giúp bà con sớm có điện sử dụng.

Tạo điều kiện cho bưu điện, viễn thông phát triển mạng lưới thông tin trên địa bàn xã để đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền cơ sở, đồng thời đi đôi với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã.

* Các công trình hạ tầng xã hội

Tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng các điểm trường hiện còn tạm bợ, trường bán trú, nhà công vụ cho giáo viên, trường mầm non.

Nâng cấp cơ sở y tế xã đạt theo chuẩn quốc gia, lồng ghép đầu tư, nâng cấp sửa chữa trạm y tế.

Quan tâm đầu tư xây dựng quy hoạch và triển khai quy hoạch chi tiết các cụm dân cư ở 16 bản. Triển khai xây dựng 4 điểm tái định cư (Sy, Pa Choong Ka Oóc, Khe Cấy)

3.2.6. Hỗ trợ, tạo điều kiện giúp người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

* Giáo dục - phát triển nguồn nhân lực

Tăng cường vận động xoá mù chữ cho thanh niên các bản. Cần có sự phối hợp với cán bộ chiến sĩ biên phòng, các đội thanh niên tình nguyện, các đoàn thể để tổ chức vận động và dạy chữ cho bà con đồng bào.

Thực hiện tốt chính sách trợ cấp cho giáo dục miền núi, để con em các hộ nghèo có điều kiện đến trường bằng các hình thức như trợ cấp sách vở, quần áo, miễn giảm học phí… Thực hiện đầy đủ các chế độ ưu đãi đối với cán bộ và giáo viên vùng cao.

Hàng năm tổ chức tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thuộc cơ quan Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở cấp xã, cấp bản và cán bộ thôn, bản vùng đồng bào. Đảm bảo mỗi cán bộ được tham gia 1 lớp tập huấn mỗi năm.

*Y tế

Tăng cường bổ sung cán bộ chuyên môn y tế, có kế hoạch để đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ y tế cơ sở. Đào tạo 1 bác sỹ là người dân tộc để đưa y tế đến với người dân tích cực hơn.

Nâng cao chất lượng hiệu quả công tác khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, huy động các nguồn lực hỗ trợ đầu tư cho quỹ khám chữa bệnh người nghèo, kết hợp quân dân y trong chăm sóc sức khỏe.

Triển khai tích cực chủ động đẩy mạnh các hoạt động phòng chống dịch bệnh, thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình.

3. KẾT LUẬN

Thực trạng đói nghèo của dân tộc Bru – Vân Kiều ở xã Trọng Hoá – huyện Minh Hoá – tỉnh Quảng Bình đang ở mức rất thấp và đáng báo động so với mức trung bình của tỉnh Quảng Bình nói riêng và cả nước nói chung. Đời sống của bà con rất khó khăn, kinh tế rất kém phát triển.

Để thực hiện xoá đói giảm nghèo có hiệu quả, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số Bru – Vân Kiều cần đưa ra các biện pháp tích cực, hợp lí và sát thực nhất, phải thực hiện đồng thời trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1]. Nguyễn Thị Hằng (2008), Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia , Hà Nội.

[2]. Hà Quế Lâm (2002), Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta, thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia.

[3]. Uỷ ban nhân dân xã Trọng Hoá (2012), Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch KT - XH giai đoạn 2008 - 2014

 

 

 

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm