Home Tổ chuyên môn Sinh - Kỷ Thư viện chuyên môn PHÒNG TRỪ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CÂY TRỒNG HƯỚNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆP.

PHÒNG TRỪ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CÂY TRỒNG HƯỚNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆP.

Thầy giáo Đặng Ngọc Sáng giới thiệu về phương pháp phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng.

PHÒNG TRỪ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CÂY TRỒNG HƯỚNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆP.

I.    MỞ ĐẦU
Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pests Management, viết tắt theo tiếng Anh là IPM) là “Hệ thống quản lý dịch hại trong đó căn cứ vào môi trường và các điều kiện sinh thái cụ thể và sự biến động quần thể các loài sinh vật gây hại mà sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các biện pháp thích hợp để khống chế quần thể sinh vật gây hại luôn ở mức dưới ngưỡng gây hại kinh tế”.

Quản lý dịch hại tổng hợp trong nhiều trường hợp đồng nghĩa với phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (Integrated Pestt Control, viết tắt theo tiếng Anh là IPC). Sinh vật gây hại trong IPM là các loài động vật hại (như côn trùng) và các loài vi sinh vật là tác nhân gây bệnh hại cây trồng. Đối với cỏ dại, việc phòng trừ chúng ngày càng trở nên quan trọng và được thực hiện trong chương trình quản lý cỏ dại tổng hợp (Integrated Weed Management, viết tắt theo tiếng Anh là IWM).
Cấu thành nên IPM là hệ thống các biện pháp phòng ngừa (kiểm dịch thực vật, điều tra phát hiện các tác nhân lạ gây hại cây trồng và nông sản để có biện pháp bao vây tiêu diệt kịp thời), biện pháp canh tác, sử dụng giống chống chịu, biện pháp sinh học và công nghệ sinh học, biện pháp dùng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng nồng độ liều lượng, đúng lúc và đúng cách v.v…
Một thực trạng xảy ra ở nhiều vùng trồng lúa là vấn đề bộc phát dịch hại ,người ta càng sử dụng nhiều thuốc trừ sâu  thì dịch hại bộc phát càng mạnh.Điều này buộc các nhà Khoa học phải suy nghĩ xem xét lại biện pháp phòng trừ sâu bệnh  bằng hoá học . Việc sử dụng  biện pháp hoá học để phòng trừ  sâu bệnh  trong một thời gian dài đã gây ra nhiều tác hại đáng kể.Trong khi sử dụng  thuốc người ta nhận thấy muốn đật được hiệu quả trừ sâu như lúc ban đầu,hàng năm cần phăi tăng nồng độ thuốc.Cho đến một lúc nào đó sâu bệnh   trở nên quen thuốc và không còn bị chết do thuốc,sâu đã hình thành tính kháng thuốc.Từ việc kháng một loại thuốc,do sự sử dụng không đúng cách con người đã tạo ra các chủng sâu kháng lại tất cả các loại thuốc trừ sâu .
Việc sử dụng  thuốc trừ sâu thiếu thận trọng cũng làm xuất hiện những loại sâu hại mới mà trước đây chúng là loại sâu hại không quan trọng bị các loài khác lấn át.
Sử dụng nhiều thuốc trừ sâu  trên đồng ruộng cũng gây mất cân bằng sinh thái-đó là chuỗi mắt xích giữa cây trồng -sâu hại -thiên địch.Thuốc sâu tiêu diệt thiên địch-là yếu tố kìm hãm mật độ sâu hại -nên sâu phát triển tự do và bộc phát thành dịch.

Ngoài ra thuốc trừ sâu còn gây ngộ độc cho con người và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống,đến động vật thuỷ sinh .Nguy hiểm hơn là nó tích luỹ trong nông sản để rồi gây hại cho những người tiêu dùng các nông sản đó.


II. NỘI DUNG
1. LỊCH SỬ RA ĐỜI
Bằng việc phát hiện ra vấn đề sử dụng hoá chất BVTV  đã làm mất cân bằng Hệ sinh thái ,làm huỷ diệt mối quan hệ bền vững giữa cây trồng -sâu hại -thiên địch các nhà Khoa học đã định hướng ra môth chiến lược phòng trừ  sâu bệnh  mới đó là bằng cách nào đó giữ cho được mối quan hệ cân bằng tự nhiên trong Hệ sinh thái ,cách duy nhất là không tác động các hoá chất BVTV .ý tưởng đó đã được kiểm chứng tại Viện đấu tranh sinh học quốc tế (Malaysia) và Viện ngiên cứu lúa quốc tế (Philippiness) bằng cách trồng lúa trong  điều kiện không phun thuốc trừ sâu  có đối chứng với việc phun thuốc.Kết quả cho thấy ở ruộng không phun thuốc trừ sâu  Hệ sinh thái  được cân bằng,thiên địch phát triển đủ sức khống chế sâu hại ;ở ruộng có phun thuốc trừ sâu  thì ngược lại,sâu hại phát triển mạnh gây ảnh hưởng đến năng suất .
Với thành công này,các nhà khoa học đưa áp dụng đại trà đầu tiên ở Indonesia năm 1986,tại vùng quê hương Tổng thống Shuharto, nơi liên tiếp 2 năm 1985 và 1986 bị Rầy nâu hại nặng. Các nhà khoa học đã hướng dẫn nông dân vùng này sử dụng giống kháng rầy, tác động các biện pháp  kỹ thuật cho cây trồng sinh trưởng  khoẻ và không phun thuốc trừ rầy. Lập tức dịch Rầy nâu bị lắng xuống. Hai vụ liên tục, bằng cách này các nhà khoa học đã dập tắt dịch Rầy nâu  ở Indonesia. Trước thành công này, năm 1987 Tổng thống Indonesia đã ra sắc lệnh cấm nhập 57 loại hoạt chất trừ sâu vào Indonesia.Từ đó đã hình thành nên một biện pháp phòng trừ sâu bệnh  mới mà không cần sử dụng thuốc trừ sâu và  chương trình qủan lý dịch hại tổng hợp -IPM-ra đời.
Từ Indonesia  chương trình qủan lý dịch hại tổng hợp đã lan dần ra nhiều nước trồng lúa trên thế giới.Năm 1992 VN đã chính thức tham gia mạng lưói IPM network và từ đó đến nay  chương trình quản lý dịch hại tổng hợp  đã phát triển mạnh mẽ ở VN mang lại cho nông dân nhiều lợi ích thiết thực.
2. ĐỊNH NGHĨA
IPM viết tắt từ cụm từ tiếng Anh  Integrated Pest Management,có nghĩa là qủan lý dịch hại  một cách tổng hợp (Còn gọi là phòng trừ tổng hợp ). Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về phòng trừ tổng hợp (PTTH) và dưới đây là định nghĩa phòng trừ tổng hợp của FAO (1972) như sau:" Phòng trừ tổng hợp là một hệ thống quản lý dịch hại  mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài sâu hại ,sử dụng tất cả các  kỹ thuật và biện pháp  thích hợp có thể được nhằm duy trì  mật độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế".
Theo Oudejans (1991) PTTH quan niệm một cách lý tưởng là một hệ thống phòng trừ hợp lý về kinh tế và vững bền,dựa trên sự phối hợp các biện pháp trồng trọt,sinh học,di truyền chọn giống và hoá học, nhằm đạt được những sản lượng cao nhất với tác hại tới môi trường ít nhất .

3. CÁC NGUYÊN TẮC CỦA IPM
- Trồng cây khỏe: chọn giống tốt,bón phân cân đối và chăm sóc hợp lý nhằm tạo tiền đề cho cây trồng sinh trưởng  khỏe,có khả năng cho năng suất  cao và đền bù lại những mất mát (lá,thân) do sâu hại hay tác nhân khác gây ra.
- Bảo vệ  thiên địch: thiên địch là côn trùng có ích,sử dụng  nguồn thức ăn chính là sâu hại  do đó có tác dụng kìm hãm  mật độ sâu hại  một cách đáng kể.Thiên địch đã có sẵn trong tự nhiên và được  bảo vệ bằng cách không phun thuốc BVTV lên đồng ruộng.
- Thường xuyên thăm đồng hàng tuần:quan sát sự sinh trưởng  của cây trồng  để có biện pháp  tác động thích hợp (nước ,phân...)giúp cây trồng phát triển  tốt.Điều  tra  mật độ sâu hại và thiên địch để đánh giá mức độ cân bằng của chúng nhằm giúp đề ra quyết định xử lý thích hợp.
- Nông dân trở thành chuyên gia: chuyên gia nghĩa là tinh thông trong lĩnh vực nào đó.Huấn luyện nông dân trở thành chuyên gia tức là nông dân đã am tường về canh tác lúa và quản lý tổng hợp dịch hại . Họ có khả năng ứng dụng thành công IPM trên ruộng nhà và hướng dẫn cho nhiều nông dân khác cùng làm theo IPM. Nguyên tắc này mang tính xã hội và tính cộng đồng.

Về nguyên lý IPM cần được hiểu:
-Trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp  tất cả các biện pháp  kỹ thuật tham gia cần phải hài hoà với các yếu tố  môi trường ,đặc biệt cần khai thác tối đa các yếu tố gây chết tự nhiên của sâu hại .
-Không thể cho rằng có thể tiêu diệt hết các cá thể gây hại trên đồng ruộng
mà chỉ có thể duy trì  mật độ chúng ở dưới mức gây hại có ý nghĩa.Như vậy,một biện pháp phòng trừ sẽ được áp dụng nếu không thì giá trị tổn thất về sản lượng sẽ lớn hơn chi phí của việc xử lý.
-Sâu hại ở  mật độ  thấp không được xem là dịch hại mà đôi khi còn có lợi vì là nguồn thức ăn để duy trì sự sống của quần thể thiên địch.Chấp nhận một  mật độ  sâu hại  nhỏ trên đồng ruộng là một ý tưởng tốt.
-Không thể quan niện quản lý dịch hại tổng hợp  là một qui trình cứng nhắc để áp dụng trong mọi trường hợp mà cần phải coi đó như là một nguyên tắc cần phải tuân theo để xá định một giải pháp tối ưu trong một tình huống cụ thể.
-IPM là sự vận dụng linh hoạt trên nền tảng khoa học cũ và những tiến bộ  kỹ thuật  mới.
IV. CÁC BIỆN PHÁP TRONG HỆ THỐNG QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP :
1. BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH VÀ KHỬ TRÙNG:
a-Kiểm dịch thực vật: là biện pháp  ngăn ngừa sự xâm nhập của sâu bệnh mới và cỏ dại từ nước ngoài vào trong nước hoặc lây lan giữa các vùng trong nước.Đây là công việc hết sức quan trọng của mỗi quốc gia và được thể hiện bằng văn bản pháp luật.Thông thường khi các loại sâu bệnh   hại xâm nhập đến những  vùng lãnh thổ mới ,nếu gặp điều kiện  khí hậu thích hợp,chúng sẽ phát triển mạnh mẽ vì không gập sự khống chế của các loài thiên địch nơi bản địa.Các loại cỏ dại  cũng phát triển  nhanh vì không có côn trùng  gây hại hoặc VSV gây bệnh khống chế.Sự xâm nhập của ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata) vào nước ta trong thời gian qua là một ví dụ.
b-Khử trùng:  khử trùng các vật liệu làm giống (hạt,hom,củ...) bị nhiễm sâu bệnh  trước khi đem trồng cũng là một biện pháp  để ngăn ngừa sâu bệnh  lan rộng trên đồng ruộng, giảm được chi phí phòng trừ  trong  sản xuất .Việc khử trùng thường được tiến hành với các thuốc diệt nấm, thuốc xông hơi diệt sâu bọ, xử lý nước nóng, xử lý nhiệt, dùng tia phóng xạ. Làm sạch hạt giống bị lẫn cỏ dại  cũng là biện pháp  ngăn ngừa tác hại của cỏ dại  trên đồng ruộng.
2. BIỆN PHÁP CƠ GIỚI:
Đây là biện pháp  đơn giản, dễ thực hiện và đã được áp dụng từ lâu đời. Nguyên lý của biện pháp  này là dùng tay bắt giết sâu bọ, ngắt bỏ lá thân bị bệnh, thu lượm ổ trứng...Biện pháp này đã được áp dụng phổ biến trước đây như những  chiến dịch thu lượm ổ trứng sâu  đục thân, ngắt lá bệnh. Gần đây là chiến dịch thu lượm ốc bươu vàng  trên toàn quốc. Ưu điểm của biện pháp  này là đơn giản, rẻ tiền và tận dụng được nhân công nhàn rỗi. Song nó cũng bộc lộ khuyết điểm là có tác động chậm và hiệu quả thấp.
3. BIỆN PHÁP CANH TÁC
Đây là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong hệ thống QLDHTH  đối với bất kỳ một loại cây trồng  nào. Các  kỹ thuật  trong biện pháp  canh tác  nhằm cải thiện điều kiện sinh thái  theo hướng có lợi cho sự sinh trưởng  cảu cây trồng  để đạt năng suất  cao , hạn chế được sự phát triển  của sâu bệnh  và tăng khả năng đền bù của cây trồng  đối với các mất  mát do sâu bệnh   hoặc tác nhân khác gây ra. Ưu điểm của biện pháp  này là chi phí thấp, dễ áp dụng trong  sản xuất, không gây ảnh hưởng đến môi trường và phát huy được hiệu quả ngay từ đầu. Đây là biện pháp chủ lực của các nhà Nông nghiệp Hữu cơ trong xu hướng bảo tồn sự đa dạng sinh học của nề nông nghiệp sinh thái bền vững.

- Làm đất và vệ sinh đồng ruộng
Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng rất có ý nghĩa để diệt trừ mầm mống sâu bệnh   trong đất và trên tàn dư cây trồng .Cày lật đất sớm có thể diệt được nhiều sâu non  và nhộng đục thân,sâu keo trong gốc rạ.Vệ sinh đồng ruộng ,dọn sạch tàn dư cây trồng có nghĩa là làm mất nơi cư trú của các loại  rầy và tiêu diệt hạch nấm bệnh khô vằn...là mầm mống sâu bệnh  trung chuyển sang gây hại vụ lúa tiếp theo.Nguyên lý  tác động  của biện pháp  vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng  sau mỗi vụ là để cắt đứt vòng chu chuyển của sâu bệnh   từ vụ này sang vụ khác,hạn chế nguồn sâu bệnh   tích luỹ và lây lan ngay từ đầu vụ gieo trồng. Quan điểm IPM cho rằng không nên "sơn bờ" mà chỉ phát quang bờ ruộng,vì đó là nơi  trú ngụ cuả thiên địch sau vụ thu hoạch và sẽ là nguồn cung cấp thiên địch cho ruộng lúa ngay từ đầu vụ.
- Luân canh
Luân canh là trồng liên tiếp nhiều loài cây trên cùng một khoảnh đất, mỗi thời gian một loài, nhằm cải tạo đất (chẳng hạn, dùng cây này sản sinh ra những chất dinh dưỡng cần cho cây sau), tận dụng các lớp đất (liên tiếp bằng những loài có rễ ăn xuống những độ sâu khác nhau. Mô hình luân canh lúa – đậu xanh đã được nông dân xã Kiến An áp dụng nhưng hiệu quả kinh tế bước đầu chưa cao. Tuy nhiên nhiều hộ nông dân cũng có lãi cao và có kinh nghiệm trong sản xuất theo mô hình luân canh này. Trồng luân canh các loại  cây trồng  khác nhau trên một cánh đồng là biện pháp  rất có  hiệu quả  để hạn chế sâu bệnh   và cỏ dại ."Rau nào sâu nấy",phần lớn các loại  sâu bệnh   trên lúa không  gây hại  cho cây trồng  khác và ngược lại.Chưa kể một số loại cây trồng  còn tiết ra chất kích thích sự phát triển  của cây trồng  và hạn chế  sâu bệnh  ở vụ sau .Vì vậy việc luân canh giữa lúa và cây trồng  khác (lúa-màu-lúa hoặc màu-lúa-màu) là phương thức canh tác  có lợi để phòng trừ  sâu bệnh. Nguyên lý của biện pháp này là cắt đứt mối quan hệ  chuyên tính giữa các sinh vật   gây hại  và cây chủ của chúng, hạn chế sự phát triển  của các loại   gây hại .
- Thời vụ gieo sạ thích hợp:
Xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa trên  đặc điểm phát sinh phá hại của sâu bệnh  quan trọng ở địa phương,bảo đảm cho cây trồng  tránh khỏi dịch bệnh làm tổn thất sản lượng.

- Gieo sạ giống chống chịu sâu bệnh
Là biện pháp  quan trọng nhằm chủ động  ngăn ngừa tác hại của sâu bệnh. Ngày nay bằng  kỹ thuật  hiện đại người ta đã tạo ra được những giống kháng rầy nâu, đạo ôn, bạc lá giúp nông dân tiết kiệm được chi phí phòng trừ  rất lớn. Thông thường sau môt thời gian các giống mất đi tính kháng sâu bệnh  do sự tiến hoá của các nòi sâu bệnh. Để ngăn ngừa tình trạng này  người ta khuyến cáo nên đa gien hoá trên đồng ruộng, nghĩa là trên một cáng đồng nên trồng nhiều loại  giống mang các gien kháng khác nhau để khi một giống bị nhiễm sẽ không có khả năng lây lan sang các giống khác và như vậy nguồn sâu bệnh  sẽ không được lây lan. Hỗn hợp giống trên một ruộng cũng là hình thức đa gien hoá để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh. Về cơ sở khoa học .phương pháp này rất có  hiệu quả  song cũng đòi hỏi các yêu cầu khắt khe như các giống hỗn hợp nhau phải :cùng kểu hình (cao cây,dạng lá...) cùng thời gian sinh trưởng, cùng đặc tính hạt.
- Mật độ gieo sạ
Mỗi giống cây trồng  dều có một  mật độ  khoảng cách hợp lý để đạt năng suất  cao.Mật độ này phụ thuộc vào độ phì của đất ,khả năng đẻ nhánh của giống và điều kiện  thời tiết. mật độ cây trồng  liên quan chặt chẽ đến dinh dưỡng đất,tiểu khí hậu đồng ruộng và tình hình sâu bệnh   hại. Sạ thưa dễ bị cỏ dại lấn át nhưng sạ dày quá lại tạo môi trường thuận lợi (nơi cư trú, ẩm độ ...) cho sâu bệnh phát triển như rầy nâu).
-Bón phân cân đối hợp lý
Phân bón  có ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng  và thông qua cây trồng  có ảnh hưởng đến sự phát sinh  gây hại  của nhiều loại  sâu bệnh. Phân bón là thành phần dinh dưỡng không thể thiếu giúp cây trồng  phát triển  tốt. Tuy nhiên bón nhiều phân hoặc bón không hợp lý sẽ làm cây phát triển  không bình thường và dễ bị sâu bệnh phá hại. Ruộng lúa bón nhiều phân dễ bị lốp đổ, hấp dẫn các loại  sâu cuốn lá, sâu keo gây hại và thường các bệnh đạo ôn, khô vằn  phá hại mạnh. Bón phân không cân đối hoặc không đúng giai đoạn sinh trưởng  của cây trồng  cũng gây ra những hiện tượng tương tự. Mỗi loại  cây trồng  có yêu cầu khác nhau vè tỷ lệ NPK. Bón nhiều N mà thiếu P, K cũng dễ làm cây bị bệnh. Phân chuồng và các loại  phân vi lượng có tác dụng giúp cây sinh trưởng  khỏe ,tăng tính chống chịu sâu bệnh hại.Mỗi giai đoạn sinh trưởng  của cây trồng  có những nhu cầu khác nhau về dinh dưỡng. Lân và phân chuồng nên bón lót vì là loại khó tiêu. Kali nên chia bón hai lần vào giai đoạn đẻ nhánh và tượng khối sơ khởi, để giúp cứng cây và chống chịu sâu bệnh  và là nguồn vận chuyển ding dưỡng nuôi hạt khi lúa trỗ, làm hạt lúa chắc và sáng hơn, nên năng suất cao hơn.
- Chế độ nước
Mỗi giai đoạn cây trồng  có nhu cầu nước khác nhau. Sau giai đoạn lúa đẻ rộ nên rút nước để hạn chế sự đẻ nhánh và giúp rễ đâm sâu để tăng tính chống đổ ngã. Khi có bệnh khô vằn không nên giữ mực nước cao vì hạch nấm sẽ dễ dàng tấn công phần ngọn lúa. Nhưng nếu bị bệnh đạo ôn thì nên giữ nước để điều tiết nhiệt độ tiểu khí hậu ruộng lúa nà nếu ruộng khô lúa sẽ hút dạng đạm tự do trong đất làm cho bệnh đạo ôn càng nặng thêm.
IV.    BIỆN PHÁP SINH HỌC
Tổ chức đấu tranh sinh học quốc tế đã định nghĩa:"Biện pháp sinh học là việc sử dụng những sinh vật  hay các sản phẩm hoạt động sống của chúng nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt tác hại do các sinh vật hại gây ra"(IOBC-1971). Như vậy biện pháp  sinh học là  hoạt động của con người  nhằm sử dụng  các sinh vật  sống hoặc các tác nhân sinh học  để phòng trừ  dịch hại. Nó cũng bao gồm việc  bảo vệ và tăng cường  hoạt động  của các loại  thiên địch trong tự nhiên. Do đó trong biện pháp  sinh học bao gồm các  hoạt động  sau:
a. Bảo vệ và tăng cường  hoạt động  của thiên địch sẵn có
-Bảo vệ thiên địch tránh bị độc hại do hoá chất BVTV bằng cách hạn chế tối đa việc phun thuốc, chỉ sử dụng thuốc có tính độc thấp, thuốc có nguồn gốc sinh học và tiến đến không sử dụng  thuốc trừ sâu  trên đồng ruộng.
-Tạo nơi cư trú cho thiên địch: để cỏ và trồng cây họ đậu trên bờ ruộng, làm các bờ rạ cho thiên địch ẩn nấp.
-Các kỹ thuật canh tác giúp duy trì và phát triển thiên địch:luôn giữ mực nước ruộng, gieo sạ  mật độ  thích hợp, biện pháp hợp lý.
b. Nhập nội các thiên địch mới
Hoạt động  này thường được sử dụng  trong những trường hợp sâu hại từ nước ngoài du nhập vào, chưa có các thiên địch đủ sức khống chế ở trong nước.ở VN người ta đang tìm cách nhập nội thiên địch của ốc bươu vàng  từ Nam mỹ vì ốc bươu vàng  được đưa vào Việt Nam với mục đích thương mại, không được  kiểm dịch nên trong thời gian qua đã  gây hại  mạnh do không có thiên địch của ốc bươu vàng  ở trong nước. Ở Miền nam trước đây, quân đội Mỹ đã đưa vào một số loại  cỏ (Cỏ mỹ, Mắc cỡ mỹ...) để  bảo vệ  khu quân sự  và sau đó chúng ta phải nhập loại  sâu ăn cỏ này vì chúng đã  gây hại  mạnh ở miền Nam.
c. Nuôi nhân và lây thả thiên địch trên ruộng
Kỹ thuật  này được  áp dụng với các loại  ký sinh chuyên tính hẹp.Khi được  thả trên ruộng, ký sinh sẽ tìm đên vật chủ ưa thích của chúng  để tiêu diệt .Việc lây thả được  tiến hành nhiều lần trong vụ, vào những thời gian thích hợp để ngăn chặn sự bùng phát của sâu hại. Ví dụ của kỹ thuật này là dùng ong mắt đỏ Trichogramma, ong được  nuôi nhân trong phòng thí nghiệm, rồi được  đem thả trên ruộng với một  mật độ 100.000 con /ha để trừ sâu đục thân và cuốn lá vì ong mắt đỏ ký sinh mạnh trên trứng của hai loại  sâu trên.
d. Sử dụng các chế phẩm sinh học
Phần lớn các chế phẩm sinh học có nguồn gôc  VSV như: nấm, vi khuẩn, virus, nguyên sinh động vật.
-Các chế phẩm từ  nấm  như: Beauveria và Metarhizum đang được  thử nghiệm ở nước ta để trừ rầy nâu, châu chấu và một số sâu hại khác.
-Các chế phẩm từ vi khuẩn phổ biến nhất hiên nay là BT (Bacillus Thurigiensis) dùng để trừ sâu non bộ cánh phấn như: sâu tơ, sâu keo da láng.
-Các chế phẩm từ virus nagỳ nay đang được  nghiên cứu và sử dụng  trừ sâu rất có hiệu quả, đặc biệt là các virsus nhân đa diện (NPV). Chúng được  phân lập từ kí chủ bị chết, nhân lên trong phòng thí nghiệm để tạo thành chế phẩm NPV, có tác dụng cao để trị sâu xanh hại bông, sâu tơ bắp cái, sâu khoang, sâu keo da láng.
-Chế phẩm từ tuyến trùng và nguyên sinh động vật cũng đang được  ngiên cứu sử dụng  như tuyến trùng Romanomermis Spp để trừ ruồi đục nõn,sâu năn và ruồi đục lá hại lúa, tuyến trùng Neoplecta Spp để trừ sâu tơ,sâu keo da láng.
e. Sử dụng Pheromone và Hormone điều hoà sinh trưởng  côn trùng

- Pheromone là chất tiết ra từ côn trùng  và nhện  để trao đổi thông tin giữa các cá  thể  cùng loài .Phổ biên nhất là Pheromone hấp dẫn sinh dục được  tiết ra từ con cái để quyến rũ con đực đến giao phối và Pheromone hội đàn do các cá thể tiết ra để gọi nhau tìm kiếm thức ăn hoạc giao phối. Các hợp chất tổng hợp tương tự như Pheromone đã được  dùng trong phòng trừ  sâu hại  với mục đích là bẫy dẫn dụ giết các con đực. Làm bẫy để theo dõi sự phân bố và  hoạt động  của côn trùng  trong công tác dự tính dự báo.

-Hormone là chất điều hoà sinh trưởng  có trong cơ thể sinh vật. Cơ chế tác động của các chất điều hoà sinh trưởng côn trùng là làm cho trứng phát triển  không bình thường (không nở hoặc bị chết sau nở), sâu non không hoá thành nhộng và trưởng thành được, một số có thể hoá trưởng thành nhưng không sinh sản được .
f. Kĩ thuật diệt sinh
Kỹ thuật  này dựa trên phương pháp xử lý phóng xạ các con đực(ở giai đoạn nhộng hoặc cuối giai đoạn ấu trùng) làm chúng mất khả năng sinh sản.Các con đực đã bị diệt sinh,khi thả ra ngoài ruộng với số lượng đủ lớn,sẽ cạnh tranh với các con đực khác trong tự nhiên khi giao phối với con cái,làm trứng không được  thụ tinh và không nở được.

V. BIỆN PHÁP HÓA HỌC
Đây là biện pháp cuối cùng khi đã sử dụng hết các biện pháp nêu trên mà không thành công sâu bệnh vẫn phát triển  mạnh. Khi đó ta cần rà soát lại xem thử đã làm sai khâu nào trong các biện pháp trên. Thông thường do bộ giống sử dụng đã bị đổ vỡ tính kháng hoặc thời tiết không thích hợp đã kìm hãm một số thiên địch phát triển  và như vậy sâu hại côn trùng  điều kiện  phát triển gây hại  mạnh. Trong trường hợp đặc biệt phải sử dụng  thuốc BVTV ta nên chú ý những điều sau đây:
-Sử dụng thuốc theo ngưỡng kinh tế. Trong thưc tế khó xác định được ngưỡng kinh tế của một loại  sâu bệnh hại, song ta nên cố gắng chỉ phun khi thấy  mật độ  sâu đủ lớn và xu thế (căn cứ thời tiết ,cây trồng ,tuổi sâu) còn tăng nữa thì mới phun. Lợi ích của việc này là tiết kiệm chi phí ,giữ cân bằng  sinh học trên đồng ruộng và giảm gây ô nhiễm môi trường .
-Sử dụng loại  thuốc tương đối an toàn với thiên địch. Nên sử dụng  thuốc có phổ tác dụng hẹp hoặc các thuốc vi sinh. Cần phải chon thời gian và phương thức xử lý ít ảnh hưởng đến thiên địch: ví dụ như việc xử lý thuốc Regent cho hạt giống để trừ bọ trĩ ,dòi đục lá ,sâu năn được đánh giá tốt vì ít ảnh hưởng đến thiên địch.
-Sử dụng thuốc theo  kỹ thuật  4 đúng: đúng thuốc , đúng nồng độ liều lượng , đúng lúc và đúng cách.
Nói chung biện pháp  hoá học  chỉ được  sử dụng  trong trường hợp khẩn cấp khi tình hình sâu bệnh   ở mức cao và điều kiện  còn có thể bộc phát mạnuh  mà áp dụng tất cả các biện pháp  đều không kìm hãm được. Biện pháp hoá học không được khuyến khích trong hệ thống  quản lý  dịch hại  tổng hợp.
V.    KẾT LUẬN
Nếu được quan tâm một cách thích đáng trong việc ứng dụng phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng thì sẽ đem lại hiệu quả tốt trong sản xuất nông nghiệp. Tiết kiệm chi phí đầu vào mà sản lượng lại cao và bền vững. Song hiện nay ở những tỉnh nghèo như Quảng Bình mặc dù diện tích sản xuất nông nghiệp






































































 

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm