Nhân đầu năm học mới luận bàn về đức dục và lễ giáo.
Tại sao cha ông ta không nói: “Tiên học đức, hậu học trí”?
Có lẽ các cụ ta xưa cũng đã gặp khó khăn như chúng ta bây giờ. Không phải các cụ không có khái niệm đức và trí, đức dục và trí dục. Không phải đợi đến thời giao lưu với phương Tây mới biết đến éducation morale và éducation intellectuelle. Cũng như chúng ta, các cụ ngày xưa đã nhận thấy đạo đức, trí tuệ cũng như đức dục, trí dục là trừu tượng, là nội dung mà chưa có hình thức, là cứu cánh mà chưa có phương tiện. Cần phải tìm ra hình thức của nội dung đạo đức, phương tiện của cứu cánh trí tuệ. Đó là lễ và văn. Phải qua lễ giáo mà đức dục, qua văn giáo mà trí dục. Minh triết Việt Nam, minh triết phương Đông là ở đây chăng?
Hãy nói đến hậu học văn trước. Học văn ở đây là trí dục. Để rèn đức, phát triển trí tuệ phải học văn. Văn đây là những giá trị của trí tuệ nhân loại được đúc kết lại ở ngôn từ, văn tự, sách vở. Muốn có trí tuệ, không phải chỉ rèn luyện chung chung mà phải học cái văn này, nó là cái cụ thể, có thể nắm bắt được, chuyển giao được, tiếp nhận được, tiêu hóa được. Cái văn này không chỉ đúng với lối giáo dục ngày xưa thiên về nhân văn mà cả đối với ngày nay, ngoài nhân văn còn có các giá trị khoa học, kỹ thuật cũng được kết tinh lại ở ngôn từ, văn tự, sách vở. Phát triển trí tuệ cần xuất phát từ cái học văn đó. Không có nó, trí tuệ biết từ đâu mà có. Không lạ gì những người có trình độ phát triển về trí tuệ thường là người có văn, tức người có thể diễn đạt, trình bày, truyền bá các thành quả trí tuệ của mình tức là tri thức và tư tưởng thành ngôn ngữ, văn từ, sách vở, tức là các công trình văn hóa, khoa học, nghệ thuật. Con đường trí dục phải đi từ văn và biến thành văn. Cho nên xưa cũng như nay, trí dục phải xuất phát từ học văn, từ giáo dục về văn, từ văn giáo. Tôi chỉ nói vắn tắt về điểm này cho đầy đủ, chứ đây không phải là trọng tâm.
Trọng tâm là giáo dục đạo đức, tức là đức dục. Và cũng như vậy, giáo dục đạo đức phải xuất phát từ học lễ, lễ giáo, phải tiên học lễ. Vì sao? Cũng như trí, đức là một giá trị trừu tượng, một phẩm chất nội sinh, nội tâm, có nội dung mà chưa có hình thức, là cứu cánh mà chưa có phương tiện. Cái hình thức, cái phương tiện để đi đến đức, chính là lễ. Có thể nói lễ là hình thức của đức. Cũng như trí của con người hiện ra trước hết ở văn, đức của con người hiện ra trước hết ở lễ. Không lạ gì, chúng ta thường nhận ra người có đạo đức trước tiên ở những người có lễ độ. Vì lễ thực chất chính là phép ứng xử đúng đắn của con người đối với con người, đối với xã hội. Các nhà đạo đức học trước sau đều khẳng định đạo đức trước hết là ứng xử hay hành vi (behavior - tiếng Anh, conduite - tiếng Pháp, povedenie - tiếng Nga). Chúng ta thường xét đạo đức của một người không phải trên ý nghĩ (không biết được) hay trên lời nói (không tin được) mà trên việc làm (có thể quan sát, đánh giá được). Các việc làm hay hành vi đó của con người thường được quy định thành các chuẩn mực đạo đức có tính xã hội để con người lấy đó mà tự hướng dẫn hành vi của mình trong cuộc sống. Các nhà đạo đức học ngày xưa gọi các quy định đó là lễ, lấy đó để trị lý quốc gia, giáo dục quốc dân (lễ trị, lễ giáo), để điều tiết, rèn luyện nhân cách con người. Khổng Tử có sáu chữ rất sâu sắc: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân”. Tôi hiểu câu này có ba vế liên quan với nhau: Khắc kỷ là kiềm chế, tự chủ bản thân; phục lễ là khôi phục và giữ gìn lễ nghi; vi nhân là làm điều nhân đức, làm người nhân đức. Như vậy lễ vừa điều tiết sự tu thân, vừa chỉ đạo việc xử thế. Khắc kỷ, vi nhân chính là mục tiêu của đạo đức, nói theo ngôn ngữ ngày nay là khắc phục chủ nghĩa cá nhân, phục vụ lợi ích cộng đồng, tức làm người có đạo đức: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… như lời dạy của Bác Hồ. Như vậy, lễ là điểm đi cũng là nơi đến của đức, phải qua lễ mà rèn đức, từ hình thức đi đến nội dung, từ phương tiện để đạt mục đích.
Trần Thanh Đạm
(Theo: giáo dục TP.HCM)


















