Home Tổ chuyên môn Văn Thư viện chuyên môn MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TRUYỆN NGẮN SAU NĂM 75

MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TRUYỆN NGẮN SAU NĂM 75

             Sau 1975, đặc biệt từ 1986, trước yêu cầu bức thiết về sự đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc của đời sống thì văn học- một trong những hình thái ý thức xã hội tất yếu cũng làm mới mình để đáp ứng yêu cầu này. Lẽ dĩ nhiên, dẫu ở thời đại nào, văn học không bao giờ xa rời tiêu chí tối thượng Chân-Thiện-Mĩ của nó. Tuy nhiên, nhu cầu người đọc hôm nay đòi hỏi ở văn học một sự “trở mình” để làm tốt hơn cái thiên chức và sứ mệnh của nó. Hơn ba mươi năm đã trôi qua, quá trình đổi mới văn học đã gặt hái được những thành tựu nổi bật mà truyện ngắn là một trong những thể loại đi đầu.

             Lí thuyết tiếp nhận khẳng định vai trò khá quan trọng của người đọc và đó cũng là khâu cuối cùng trong chu trình sáng tạo của tác phẩm văn học. Nếu không diễn ra quá trình tiếp nhận, cắt nghĩa, giải mã thì sản phẩm nghệ thuật của nhà văn mãi chỉ là những văn bản cứng đờ trên trang giấy mà thôi. Hoạt động dạy- học văn trong nhà trường là một trong những hình thức tiếp nhận văn học đặc thù.

            Một vấn đề đặt ra là, việc lĩnh hội văn chương bao giờ cũng mang đậm dấu ấn chủ quan song đây cũng là một ngành khoa học nên sự đồng sáng tạo của người đọc cần  những định hướng mang tính phương pháp luận. Cắt nghĩa thế giới nghệ thuật của nhà văn dưới góc độ thi pháp học là một phương pháp tiếp cận khoa học, nhất là khi người đọc đặt tác phẩm trong phạm trù thi pháp thời đại. Để giải mã hai truyện ngắn sau 1975(Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu và Một người Hà Nội – Nguyễn Khải) được học chính khóa trong chương trình Ngữ văn 12 dưới ánh sáng thi pháp học, thiết nghĩ cần nhận diện rõ sự đổi mới sâu sắc trên các bình diện thi pháp của văn học thời kì 1945-1975 và văn học sau 1975.

  Những đổi mới của văn học sau 1975 trên những bình diện phổ quát

Quan niệm về nhà văn

 

             Với đặc thù của nền văn học chiến tranh, văn học 1945-1975 gắn với kiểu nhà văn- chiến sĩ, nhà văn -cách mạng. Họ phát ngôn cho tiếng nói thời đại, nhân danh kinh nghiệm cộng đồng.  Nhiều khi do yêu cầu sống còn của vận mệnh dân tộc, nhà văn cần lựa chọn hi sinh nghệ thuật và cá tính sáng tạo như Tố Hữu từng nói: Tôi muốn viết những dòng thơ tươi xanh. Vẫn nóng viết những vần thơ lửa cháy.

            Xu hướng dân chủ từ sau 1975, đặc biệt 1986 tạo nên cho văn học kiểu nhà văn mới. Họ sáng tạo nhân danh kinh nghiệm cá nhân với ý thức cá tính cao độ. Viết tác phẩm, tác giả không đứng cao hơn độc giả để phán truyền mà đối thoại với người đọc, chia xẻ và kiếm tìm những cách cắt nghĩa mới để sinh thể nghệ thuật của mình luôn sống. Quan niệm này gần gũi với văn học trước 1945 nhưng được ý thức ở trình độ cao hơn.

 Quan niệm về hiện thực

            Hiện thực được phản ánh trong văn học 1945-1975 gắn bó chặt chẽ với  cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, âm vang hào khí thời đại. Đó là một hiện thực vận động xuôi chiều và nhìn chung rất lạc quan (trừ một số bài thơ chống Pháp có nói đến cái bi tráng).

             Sau 1975, các nhà văn không chỉ dừng lại ở phản ánh mà còn nghiền ngẫm hiện thực. Trước đây, hoàn cảnh chiến tranh không cho phép họ khám phá tận cùng sự phức tạp, bề bộn, ngổn ngang của đời sống. Giờ đây, do yêu cầu của thời đại, do nhu cầu tự thân của hoạt động sáng tạo, hiện thực đời sống đi vào văn chương vẹn nguyên sự đa chiều của nó, được soi sáng, cày xới cả những phần khuất lấp, mờ tối.

 . Quan niệm nghệ thuật về con người

             Lịch sử văn học là lịch sử của những quan niệm khác nhau về con người. Văn học chiến tranh đã tạo dựng thành công kiểu con người sử thi, biểu trưng cho cộng đồng. Cuộc kháng chiến đã đem lại cho con người vẻ đẹp lí tưởng mà nói như A. Niculin, nhân vật được "tắm rửa sạch sẽ và bao bọc trong bầu không khí vô trùng" ( nhân vật của Nguyễn Minh Châu). Nhân vật luôn trùng khít với địa vị xã hội của mình và luôn ở trạng thái đơn trị, nhất phiến.

             Văn học sau 1975 hướng đến khám phá và tạo dựng con người thế sự- đời tư, con người cá nhân với những phức tạp và bí ẩn của nó. Nhà văn cắt nghĩa sự tồn tại của con người không phải  ở vị thế nhà đạo đức, nhà tuyên huấn mà là nhà triết học, nhà tư tưởng. Con người được nhìn ngắm từ nhiều toạ độ nên nhiều chiều, đa nhân cách, vừa có "rồng phượng lẫn rắn rít, thiên thần và ác quỷ" và nhìn chung, nó toàn diện và sâu sắc hơn.

 Điểm nhìn trần thuật

             Nhìn chung, văn xuôi 1945-1975 chủ yếu sử dụng phương thức trần thuật khách quan được soi chiếu từ điểm nhìn của tác giả. Nhà văn đứng cao hơn nhân vật và trở thành người phán truyền chân lí.

             Sự đổi mới sâu sắc nhất của văn học sau 1975 ở phương diện trần thuật chính là đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật. Hiệu quả của việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn đã tạo nên hệ thống các giá trị khác nhau về con người và hiện tượng. Thực ra, việc di chuyển điểm nhìn từ tác giả đến người kể chuyện và nhân vật đã có trong văn xuôi Nam Cao và Nguyên Hồng song hiệu quả là nhằm tái hiện thế giới nội tâm. Với văn học thời đổi mới, mục đích sâu xa là nhằm soi chiếu hiện thực từ nhiều chiều, nhiều góc độ.    Giọng điệu trần thuật             Cũng xuất phát từ yêu cầu chiến tranh, văn học là phương tiện cổ vũ, tuyên truyền cách mạng. Bởi thế, giọng điệu chủ đạo của văn học thời kì này nhất quán ở sắc thái ngợi ca, trang nghiêm và đầy lạc quan.

            Trong khi đó, văn học sau 1975 đã chuyển từ đơn sang đa giọng. Nhu cầu khẳng định cá tính, nhận thức và khám phá tận cùng các đối tượng nghệ thuật đã làm nảy sinh các giọng điệu: hoài nghi, chất vấn, chiêm nghiệm, triết lí, giễu nhại .Chính chất liệu ngôn ngữ đời thường thô nhám, giàu màu sắc khẩu ngữ ùa vào trang văn  làm nên sự đa giọng điệu này.

 

             Có thể nói rằng, quá trình đổi  mới của văn học sau 1975 diễn ra khá toàn diện và sâu sắc từ nhà văn đến công chúng, từ bản chất văn học đến tư cách nghệ sĩ, từ tư tưởng đến thi pháp. Nhận diện những đổi mới ấy dưới góc độ thi pháp sẽ giúp giáo viên dễ dàng hơn trong việc tiếp cận những văn bản mới trong chương trình. Tiếp cận hai truyện ngắn Một người Hà Nội  và Chiếc thuyền ngoài xa dưới góc nhìn thi pháp

 Một người Hà Nội của Nguyễn Khải

             Nhân vật trung tâm  của truyện ngắn là bà Hiền, một biểu tượng của cốt cách người Hà Nội. Nguyễn Khải không chỉ khám phá nhân vật ở bình diện x• hội, tiêu chí chính trị đạo đức mà còn ở góc độ văn hoá, lịch sử, triết học. Bởi thế, chân dung nhân vật hiện lên thật sâu sắc và toàn diện. Vẻ đẹp nhân vật được khắc hoạ ấn tượng ở ý thức cá nhân( mình là người Hà Nội với vẻ đẹp riêng không trộn lẫn) và cách ứng xử giàu lòng tự trọng. Được soi ngắm trong cái nhìn thế sự  mà điểm quy chiếu là văn hoá ứng xử và đạo đức sinh hoạt, nhân vật của Nguyễn Khải thật gần gũi và sống động vô cùng. Thế giới nội tâm với những phức hợp giằng xé, những suy nghĩ thực  của nhân vật được phô bày rõ mồn một không uốn nắn đẽo gọt. Nói về việc đi lính của đứa con trai đầu, bà Hiền bảo: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Người mẹ ấy chấp nhận cho con đi lính vì lí do không muốn con sống đớn hèn. Tuy nhiên, bà cũng không dấu nỗi lo lắng và đau lòng, không vờ vui vẻ bởi bà biết con ra đi chốn bom đạn thì làm sao hẹn ngày về. Nỗi niềm và tâm sự rất đời thường nhưng cũng rất nhân bản ấy minh định cho cách khám phá, tạo dựng con người đa chiều của nhà văn.

            Đặc biệt, nhà văn đã vận dụng thấu triệt đa dạng hoá điểm nhìn, soi chiếu đối tượng dưới nhiều góc nhìn, cách nhìn khác nhau khiến tác phẩm có sự đối thoại cao, tạo ra nhiều giá trị trị từ một vấn đề. Nhiều khi, tác phẩm còn mời gọi sự đánh giá của người đọc. Truyện của Nguyễn Khải được kể bằng đối thoại, phân tích và bình luận chứ rất ít miêu tả và trần thuật khách quan. Đặt ra vấn đề nhìn nhận về lối sống của người Hà Nội xưa nay, tác giả soi chiếu dưới rất nhiều điểm nhìn. Có người thì cho đó là đương nhiên, thời thế đổi thay, con người đổi thay. Một ý kiến khác thì tỏ ra thất vọng trước hiện tại và hoài vọng quá khứ. Người kể chuyện tỏ ra hoài nghi, lo âu khi thấy Hà Nội giàu nhưng chỉ còn phần xác. Trong khi đó, với bà Hiền, một con người luôn gìn giữ hồn cốt và phong vị người Hà Nội dẫu thế sự xoay vần ra sao vẫn tin rằng, Hà Nội thời nào cũng đẹp. Phương thức trần thuật của truyện là cái tôi tự truyện đầy màu sắc chủ quan, trình bày kinh nghiệm cá nhân trước hiện thực. Tác giả không áp đặt cách nhìn của mình mà đối thoại với nhân vật và người đọc trong quan hệ bình đẳng, tạo nên tính dân chủ cao.

             Phản ánh và nghiền ngẫm một vấn đề giàu giá trị văn hoá gắn với nếp sống, nếp nghĩ của người Hà Nội, giọng điệu trong tác phẩm là sự đan cài nhiều sắc thái khác nhau: vừa lo âu, tiếc nuối vừa tin tưởng tự hào. Giọng điệu trần thuật ấy phản chiếu rất rõ thái độ của nhà văn trước hiện thực đời sống- một hiện thực ngổn ngang, bề bộn với những chân giá trị và nguỵ giá trị xâm thực lẫn nhau. Câu văn cuối tác phẩm như một nốt vút cao của bản giao hưởng nhiều bè, thể hiện thật sâu niềm tự hào về một con người Hà Nội: Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng. Viết truyện ngắn này, Nguyễn Khải như người thợ kim hoàn trong tác phẩm của Pauxtôpxki cần mẫn nhặt  những mẩy bụi vàng để kết nên bông hồng vàng bất tử.

  Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

             Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh  nhất trong xu hướng đổi mới của văn học sau 1986. Với quan niệm nghệ thuật đích thực không bao giờ rời xa cuộc đời, tác giả không phán truyền, áp đặt mà đối thoại cùng người đọc suy ngẫm của mình về con người và nghệ thuật.

             Hiện thực được phản ánh và nghiền ngẫm trong tác phẩm thu nhỏ trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa. Đằng sau vẻ đẹp  tuyệt mĩ, toàn bích như kì công của tạo hoá ấy lại tiềm ẩn và ngự trị cái ác, cái xấu (g• chồng to lớn, dữ dằn đánh đập vợ thô bạo). Vẻ đẹp tuyệt mĩ của con thuyền trong sương mờ từ xa bỗng vỡ vụn bởi một cảnh tượng trần trụi khi nó tiến gần bờ. Qua đó, nhà văn muốn gửi gắm một quan niệm về hiện thực: Nhìn nhận cuộc đời không nên đơn giản, xuôi chiều, bị đánh lừa bởi vẻ ngoài mà cần soi thấu sự phức tạp, chứa đầy nghịch lí, mâu thuẫn bên trong. Để nhận diện được bản chất đích thực của đời sống, mỗi người cần thâm nhập mạch ngầm ẩn sâu để không bị ngộ nhận bởi vẻ hào nhoáng bên ngoài.

             Với truyện ngắn này, Nguyễn Minh Châu đã khám phá con người trong sự phức hợp, đa chiều của nó. Nhân vật của ông không đơn giản , nhất phiến mà được soi chiếu, lật xới mọi chiều cạnh của khối vuông ru bích. Người đọc cảm nhận được ở người phụ nữ thuyền chài với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch ấy ẩn giấu bên trong một tâm hồn đẹp đẽ với tấm lòng bao dung, vị tha và đức hi sinh vì chồng con. Cách lí giải và cắt nghĩa của chị về cuộc sống cá nhân chứng tỏ một sự chín chắn và sâu sắc vô cùng, làm cho những trí thức như anh nghệ sĩ nhiếp ảnh và vị thẩm phán vỡ vạc nhiều chân lí đời sống mà trước hết, đó là sự trải nghiệm.

             Đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật cũng là một thế mạnh nghệ thuật trong truyện ngắn này. Cắt nghĩa số phận bất hạnh của ngưòi đàn bà và đề xuất cách hành xử nhằm giải thoát cho chị, nhà văn đặt nó dưới điểm nhìn của nhiều nhân vật khác nhau. Đứa con trai ngây thơ, bốc đồng và xốc nổi thì kịch liệt kết tội bố đã gây ra cảnh ngộ này. Vị thẩm phản dưới góc độ pháp luật để bảo vệ cho người bị hại thì li hôn là phương cách tối ưu. Còn người đàn bà thì sao? Bà không bỏ chồng mặc dù bị đối xử tàn tệ có phải bởi lo sợ hay nhẫn nhục cam chịu cho qua một kiếp làm người? Cách nghĩ của chị khiến nhiều người phải giật mình xem lại mình. Ba lí do thật đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc: bản tính ấy của chồng theo chị không phải bản chất mà do hoàn cảnh nghèo, đông con gây ra; với chị- người đàn bà sống lênh đênh trên thuyền thì rất cần người đàn ông như một chỗ dựa để chống chọi phong ba bão tố; cuối cùng, nhân bản nhất đó là vì con, vì những ngày tháng hạnh phúc mà họ từng có. Nhà văn không hề áp đặt người đọc bởi một cách nghĩ nào cả mà đặt trong sự bỏ ngỏ tùy người đọc lựa chọn. Bởi thế, tác phẩm giàu tính đối thoại mà mỗi người đọc là một  nhõn vị độc lập.

             Từ những khảo nghiệm nhỏ trên đây, chúng ta sẽ thấy rằng, tiếp cận và cắt nghĩa những truyện ngắn đương đại trong nhà trường phổ thông dưới góc độ thi pháp thời đại là một hướng khoa học và hiệu quả. Lẽ dĩ nhiên, hoạt động đồng sáng tạo tác phẩm văn chương là sự tích hợp nhiều cách thức và phương pháp khác nhau. Với bài viết này, người viết mong muốn góp một tiếng nói nhỏ của mình vào thực tiễn giảng dạy những tác phẩm văn học còn khá mới mẻ trong nhà trường. Âu cũng là để tự tìm kiếm cho mình một đường hướng giải mã các sinh thể nghệ thuật còn phong kín.

Giáo viên: Nguyễn Thị Tuyết Hanh

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm