Home Tổ chuyên môn Văn Thư viện chuyên môn KHÔNG GIAN HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ

KHÔNG GIAN HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ

“Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian, không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người” (Trần Đình Sử). Mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ không - thời gian xác định, nên tìm hiểu, khám phá thế giới phải bắt đầu từ sự cảm nhận về không gian, thời gian. Từ sự chiếm lĩnh không gian, thời gian mà con người tiếp cận về đời sống, về chính mình. Vì vậy, trong quá trình sáng tác, mỗi nhà văn đều có ý thức lựa chọn cho mình một không gian nghệ thuật, một vùng thẩm mỹ mang những tín hiệu riêng để biểu đạt những thông điệp mà mình gửi gắm trong tác phẩm. Không gian nghệ thuật mà nhà văn tạo ra trong tác phẩm nghệ thuật kết tinh những đặc trưng văn hóa của quê hương, miền xứ sở nơi nhà văn sinh ra và lớn lên, nơi nhà văn gắn bó, am hiểu sâu sắc. Vùng thẩm mỹ đó của nhà văn giúp người đọc nhận ra diện mạo không gian của mỗi thời đại, mỗi con người, dân tộc trong đời thực. Từ đó vùng thẩm mỹ là chiếc chìa khóa mở ra thế giới nghệ thuật, kết nối bạn đọc với những tư tưởng, tình cảm của tác giả.

1. Khái niệm không gian nghệ thuật được trình bày một cách cơ bản và khái quát nhất trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán: "Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó".

Trần Đình Sử lí giải thêm: không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng thế giới nghệ thuật. Ông còn khẳng định một cách hết sức chắc chắn: "không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không nào không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống". Như vậy, không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống, “mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật”. Và sự miêu tả, trần thuật bên trong tác phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, ta xác định được vị trí của chủ thể trong không - thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định. Căn cứ vào điểm nhìn mà xác định được vị trí của chủ thể trong không - thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của khách thể được nhìn. Điểm nhìn không gian được thể hiện qua các từ chỉ phương vị (phương hướng, vị trí), để tạo thành “viễn cảnh nghệ thuật”.

Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật. Không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại.

2. Nguyễn Việt Hà (sinh năm 1962) là một trong những nhà văn xuất hiện và trưởng thành vào thập niên cuối cùng của thế kỉ XX. Thành danh ngay từ khi chưa phải là người sáng tác chuyên nghiệp với Cơ hội của Chúa (1999), Nguyễn Việt Hà đã khẳng định được một phong cách riêng độc đáo không thể trộn lẫn. Trải qua hành trình sáng tạo hơn hai mươi năm, anh đã khẳng định được địa vị của mình trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại. Anh trở thành gương mặt nổi bật của nền văn học với nhiều tác phẩm tiếp theo gây được tiếng vang, thu hút sự chú ý của độc giả như: Khải huyền muộn(2003), Của rơi (2004), Nhà văn thì chơi với ai (2005), Mặt của đàn ông (2008), Đàn bà uống rượu (2010), Con giai phố cổ (2013) và mới đây nhất cuốn tiểu thuyết Ba ngôi của người đã ra mắt độc giả vào tháng 8 năm 2014. Dù sáng tác ở nhiều thể loại, tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp văn, tản văn nhưng mọi người biết nhiều đến Nguyễn Việt Hà với tư cách là nhà văn viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà mới lạ, thể hiện nỗ lực cách tân đổi mới mang đậm cảm quan hậu hiện đại. Ngòi bút nhà văn xoay quanh những vấn đề đương đại: đô thị, tuổi trẻ, trí thức… Và dù viết về đề tài nào, thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà cũng được giăng mắc trong một không gian của riêng anh, không gian Hà Nội với những dấu hiệu thẩm mỹ đặc trưng chứa đựng cách nhìn, cách cảm với nơi anh rất đỗi thân thuộc, gắn bó.

3. Trong buổi tọa đàm mang tên “Hà Nội của Hà” diễn ra tối ngày 7 tháng 1 đầu năm nay tại L’Espace Hà Nội, Nguyễn Việt Hà kể những câu chuyện gắn bó với Hà Nội trong văn chương, trong đời sống của mình. Anh chân thật: “Mọi người hay nói trong tác phẩm của tôi có chất Hà Nội gì đó. Tới gần đây khi Nhà xuất bản Trẻ in lại các đầu sách cho tôi, tôi xem thì thấy có một Hà Nội xuyên suốt”. Một cách tự động không ý thức, Hà Nội trở thành không gian nghệ thuật, vùng thẩm mỹ trong sáng tác, trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà. “Hà Nội thật ra chẳng của riêng ai. Nhưng trong từng người, Hà Nội lại có ấn tượng riêng, cách nhìn và tình cảm riêng với mảnh đất này” - Nguyễn Việt Hà trả lời khi được hỏi “Hà Nội của Hà là gì?”. Với Nguyễn Việt Hà, Hà Nội đâu chỉ là quê hương, là nơi gắn bó về tâm hồn, mà còn là một đề tài cho các sáng tác: “Hà Nội là một đề tài miên viễn, thời thượng. Tôi may mắn khi viết về đời sống thị dân ở đây”.

4. Từ Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn đến Ba ngôi của người, không gian Hà Nội hiện lên đậm đặc, ám ảnh. Tràn trên những trang viết của nhà văn là những tên riêng, địa danh quen thuộc: Hà Nội, chùa Quán Sứ, phủ Tây Hồ, Ba Đình, Hồ Gươm, Hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, hồ Trúc Bạch, nhà thờ Lớn Hà Nội, Nhà Chung, Tràng Tiền, chợ Đồng Xuân, Sông Hồng, Tràng An, Lã Vọng, Thọ Xương, Ấu Triệu, Thụy Khê, Kim Liên, Tràng Thi, Quất Lâm Đội Cấn, Hàng Than, Hàng Đào, Hàng Vôi, Hàng Bạc, Hàng Chai, Hàng Cỏ, Hàng Buồm… Trong các tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộnBa ngôi của người hay cả những tập tạp văn khá “ăn khách” gần đây của Nguyễn Việt Hà (như Con giai phố cổ, Đàn bà uống rượu…) là những câu chuyện về Hà Nội. “Nói là Hà Nội nghe rộng quá! Thực chất, không gian trở đi trở lại trong những sáng tác của tôi chỉ là khu phố cổ gắn với Hồ Gươm, hay mở rộng hơn một chút là quận Hoàn Kiếm” - Nguyễn Việt Hà giãi bày. Anh bảo, đó là nơi anh gắn bó, yêu thương và trân trọng. Những con phố, ngõ nhỏ, nhà cửa, quán sá, cây cối, những không gian công cộng Hà Nội đã trở thành máu thịt, tâm hồn nhà văn. Nguyễn Việt Hà được sinh ra và lớn lên trong một gia đình gốc Hà Nội ba đời tại ngôi nhà phố cổ số 28 Hàng Chung. Phố Nhà Chung đi qua nền ngôi chùa Báo Thiên xa xưa có từ thời Lý, lại cũng là nơi Nhà thờ Lớn được dựng lên, và trong quy hoạch thời Pháp, nó là một con đường nối khu phố 36 phố phường của người Việt với khu phố Tây. Gần ngay Hồ Gươm, trung tâm của đô thị Hà Nội hơn trăm năm qua, nó chứng kiến những va chạm giữa thần quyền và thế quyền, giữa phảng phất như là có đức tin và thảng thốt sự đổ vỡ hoài nghi. Vùng phố xá Nguyễn Việt Hà rất am tường này đã ảnh hưởng lên không gian sáng tác của anh. Vì thế, không có gì ngạc nhiên là trong những cuốn tiểu thuyết của mình, Nguyễn Việt Hà trở đi trở lại con phố Nhà Chung nơi anh ở, hoặc rộng hơn một chút là những con phố cổ chật hẹp gắn với Hồ Gươm. "Quê hương với mọi người là sông. Nhưng Hà Nội của tôi là một cái hồ”, Nguyễn Việt Hà từng chia sẻ. Hồ Gươm vì thế trở thành một không gian neo đậu cảm xúc của nhà văn với Hà Nội. Có thể dễ dàng nhận ra khi đọc những cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà là không gian mang đậm dấu ấn Hà Nội: Phố nhỏ không dài. Một nhà thờ nhỏ và ít cây xanh, Hà Nội bắt đầu một mùa hè sớm. Trời ấm ức oi đã suốt một tuần chang chang màu cây xanh in vào nền trời trong (Cơ hội của Chúa); Những cây sấu nổi rễ già, những cây bàng lá lác đác đỏ (Khải huyền muộn); những ngôi nhà có lãng mạn ban công nhìn ra những mái nhà cổ rêu phong lô xô ngói âm dương. Có cửa sổ hình bán nguyệt, nhang nhác kiểu Vọng Nguyệt lâu; Tôi và cậu và cái Cầm ngồi uống với nhau khoảng hơn dăm lần, lần nào cũng ở cái bar  tầng 14 khách sạn Sheraton. Viu tuyệt vời, thăm thẳm rộng rãi, những hôm trời trong thấy cả xam xám nhấp nhô nét núi Ba Vì. Hồ Tây thanh thản có màu nước biển dịu dàng vô cùng… Và chỉ cần hoàng hôn muộn dầm trong mưa tím là chợt nhiên mặt hồ bỗng rùng mình thành trong veo lãng mạn (Ba ngôi của người)… Hà Nội là quê hương, là cuộc sống mưu sinh của những mảnh đời, số phận: Nhà anh ấy bán bia hơi ở ngã ba Lý Quốc Sư – Chân Cầm…Bố anh ấy trước ở trong Nhà Chung…, Cẩm My dạy một lớp người mẫu trẻ ở Cung Văn hóa”(Khải huyền muộn); Mẹ tôi thuê rồi mua được căn nhà hai tầng ở ngõ Thọ Xương, bên phía trái của Nhà thờ Lớn Hà Nội, Khi đi học, tôi ngang qua khuôn viên Đức Bà, ngang qua cả phố Tràng Tiền rồi rẽ vào đường nhỏ Nguyễn Khắc Cần, Nhà nó ở cuối phố Lý Thường Kiệt, hai tầng xập xệ xây từ thời Pháp thuộc, có một vườn nhỏ hoang phế tiêu tao rất Hà Nội, Đầu Mượt nhà ba đời ở phố Hàng Chai, bố là liệt sĩ năm 1946, hy sinh trong những ngày hà Nội hào hoa ngút lửa buổi đầu chống Pháp. Ông ta mê quyển “Sống mãi với Thủ đô” của Nguyễn Huy Tưởng lắm, Cụ Trùm Hậu ở phố Nhà Chung nhặt được bố tôi bị bỏ rơi cạnh khuôn viên hang đá Đức Mẹ, chỗ đấy về sau thành nhà Văn hóa quận…, Tôi là đứa trẻ bị bỏ rơi, nhưng may mắn vẫn có lá số tử vi. Lúc cụ Trùm Hậu nhặt tôi ở hang đá Đức Bà, chỗ tòa Khâm Sứ cũ 40 phố Nhà Chung, tôi được chừng ba ngày tuổi (Ba ngôi của người). Các nhân vật hít thở bầu không khí Hà thành, gắn bó và thân thuộc với từng con đường, góc phố, nếp nhà, mái quán, bờ hồ…Hai đứa chúng tôi miên man đi quanh Hồ Tây (Cơ hội của Chúa); Tôi và anh đi lang thang quanh Bờ Hồ. Thường là những buổi chiều muộn và không hiểu sao rất hiếm người đi bộ. Cũng có thể bây giờ trời đã nhuốm Đông, còn ở những buổi chiều mùa hè nhạt nắng, nhan nhản những tiểu thị dân có tuổi, nam và nữ, nôn nóng đi bộ dưỡng sinh, Vũ bảo Long loanh quanh lái xe một vòng. Qua chùa Quán sứ. Qua phủ Tây Hồ. Qua khuôn viên Đức Bà trước cửa Nhà thờ Lớn (Khải huyền muộn); Tôi vừa rời một quán cà phê hay một bar rượu. Phía xa xa sát mép hồ Hoàn Kiếm, đoạn giữa đường đôi phố Lý Thái Tổ, có một cậu bé thẫn thờ chơ vơ đứng vẽ, Tôi ngồi độc ẩm ở quán Vọng Ba Lâu bên Hồ Tây (Ba ngôi của người). Họ ngắm nhìn, lắng nghe và cảm nhận cảnh sắc, thanh âm Hà Nội ở chiều sâu của nó: Buổi chiều dịu dàng. Hoàng thích Hà Nội về đêm. Nhưng yêu, thì rất yêu những buổi chiều như thế này. Phố cổ ngói xám. Hồ Tây sương loang. Những bãi cỏ xanh được mưa xuân mơn mởn. Các ghế đá vắng trong thời gian lỡ cỡ chờ tình yêu (Cơ hội của Chúa); Đêm muộn Hà Nội thật đẹp vừa quen vừa lạ(Khải huyền muộn); Nàng mông lung nhìn Tháp Rùa mơ hồ bị buổi sáng có sương mù muộn lãng đãng. Một cái “viu” cực kì Hà Nội cũ còn sót lại ở thế kỷ hăm mốt, Bờ Hồ trở gió ghì mấy cây liễu mỏng manh xuống sát mép nước. Tóc của hồ là liễu, tóc của mây là mưa(Ba ngôi của người). Hà Nội là chứng nhân của tình yêu, là không gian hò hẹn: Nụ hôn đầu đời bẽn lẽn của tôi ở gần đền Ngọc Sơn, sát phía chân cầu Thê Húc. Cái cầu gỗ cong cong cũ kỹ có tên nôm nơi đậu ánh mặt trời… Chưa bao giờ tôi nhìn Hồ Gươm kỹ như vậy; Buổi hẹn đầu tiên của mối tình đầu thì ai cũng nhớ. Những lá liễu lảng vảng hạt nước của trận mưa rào buổi tàn chiều. Chuông Nhà thờ Lớn thong thả đánh tám tiếng… Gió mềm mại thổi về phía Tháp Rùa, sâu trong làn gió là những lảnh mảnh của tình yêu tuổi trẻ (Khải huyền muộn). Hà Nội là điểm tựa, là không gian đồng cảm, đùm bọc khi con người chông chênh mất niềm tin, đổ vỡ: Nhiều buổi chiều đã mềm mềm môi tôi phi xe lên cầu Thăng Long. Từ trên cái lan can cao tít của cây cầu tôi nhìn dòng sông đỏ cuồn cuộn chảy (Cơ hội của Chúa); Tôi lảo đảo đi về đường Tràng Thi. Hà Nội hai giờ sáng đèn đường đỏ đòng đọc. Lòng đường nhựa đen thẫm, hun hút chạy lên nền trời đen sẫm. Từ ngã tư Cửa Nam, nhìn thăm thẳm tới tận Nhà Hát lớn. Típ tắp cuối phố không hề thấy một ánh đèn nào. Tôi cán ngón tay út bật máu. Tôi sẽ không bao giờ làm phiền em nữa (Ba ngôi của người). Vì thế dẫu có lưu lạc ở phương xa, hay đã xa rồi một thời quá khứ, Hà Nội vẫn luôn ở trong niềm đau đáu ngóng vọng, hoài nhớ, Hà Nội là kí ức thân thương trong nỗi nhớ da diết: Đã vài lần tôi nhớ Tháp Rùa… (Khải huyền muộn); Tự nhiên thấy thèm cái lò nhỏ ủ than hoa chả cá Lã Vọng hay bát phở đêm ngõ Tạm Thương kinh khủng; Tôi nhớ cái khung cửa sổ rộng, rất đặc trưng cho kiến trúc villa Pháp cũ, không treo rèm nhìn thẳng ra một vườn rộng có sum suê hai cây nhãn vòm nặng; Bầu trời Hà Nội mùa đông lạnh lẽo 1972, liên miên gầm thét lằng nhằng những vệt sáng của bom tên lửa. Cả phố dài Khâm Thiên khét mùi thịt người vẫn đang âm ỉ khói, người ta gào khóc mệt mỏi căm thù chuyền tay nhau những cái xác cháy dang dở vừa moi; đám người phố cổ tha hương nức nở nhớ Hà Nội…Nói về cái rét mùa đông Hồ Gươm, cái mưa phùn tàn thu hồ Tây, mắt lúc nào cũng ngân ngấn như có nước (Ba ngôi của người). Các nhân vật của Nguyễn Việt Hà là những con người lớn lên, lập nghiệp ở Hà Nội và dẫu đi xa ở chân trời cuối đất cuối cùng cũng trở về, loanh quanh ở những con phố cổ, tìm một quán nhậu hay quán café ở con phố Nhà Chung hay gần Bờ Hồ để vơi trút những ngổn ngang, bời rối nhọc nhằn của cuộc mưu sinh: Chúng tôi ngồi ở quán cà phê có vườn trông ra hồ, một đoạn phố còn sót nhiều villa kiểu Pháp (Cơ hội của Chúa); Hà Nội gợi cảm trong khúc giao mùa quyến rũ dấy lên tình yêu, niềm tin: Tôi thuộc lòng các ổ gà, tôi thuộc lòng các cửa sổ hoặc khép hoặc mở. Tôi yêu Hà Nội của tôi...; Hà Nội tàn thu, mưa bụi mịn giăng, phảng phất có gió Đông Bắc rét đầu mùa. Một nghìn năm trước nó đã vậy và một nghìn năm sau cũng sẽ vậy (Ba ngôi của người).

Đề tài về Hà Nội đã từng được viết bởi nhà văn Nguyễn Tuân với những nét hào hoa, một Hà Nội nhiều sắc mầu tươi mát lãng mạn của Vũ Bằng với mùa xuân của Hà Nội là mùa xuân có mưa liêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, là mộng về Hà Nội đi  với vợ trên con đường hò hẹn thơm thơm mùi hoa sấu. Hay một Hà Nội của Thạch Lam với những món ăn tinh tế, những ký ức ấm áp ngày tết với đêm đông, gió lạnh bên lò bánh chưng ấm áp… cả nhà ngồi vây quanh, nghe tiếng nước reo mà kể chuyện cũ. Hay Hà Nội trong Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài được nhìn từ hai phương diện: văn hoá vật chất với cảnh sống cực khổ của người dân nô lệ mất nước và văn hoá tinh thần với vẻ đẹp của phong tục tập quán, lễ hội, văn học dân gian và sức mạnh tinh thần bền vững. Riêng Nguyễn Việt Hà, cùng cảm thức như vậy về Hà Nội nhưng có cái nhìn trẻ trung, tươi mới hơn. Hà Nội trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà là không gian chiếm lĩnh, là ngoại cảnh của thế giới nhân vật, là một phương thức nghệ thuật để nhà văn tái hiện cuộc sống hiện thực. Cái cách Nguyễn Việt Hà quan sát, tái hiện không gian sống xung quanh vào tác phẩm làm nổi bật đời sống của thế giới nhân vật, cho thấy mảng không gian, vùng thẩm mỹ sở trường của nhà văn và không chỉ thế gợi ra được hồn cốt của mảnh đất Thăng Long nghìn năm văn hiến, tình yêu sâu đậm của anh đối với Hà Nội. Tác giả đã dựng lên một bức tranh rất thực của Hà Nội hôm nay – nơi quần cư của nhiều con người đến từ mọi miền, hoà hợp với những giá trị tự thân của Hà Nội, tạo nên nét tinh tế, tao nhã của văn hoá Thăng Long.

5. Có điều, yêu Hà Nội nhưng Nguyễn Việt Hà vẫn rất tỉnh táo: “Tôi không thể tự ru ngủ mình bằng giấc mơ hồng, giấc mơ tím mà từ thưở ấu thơ xa xăm những người tốt như mẹ tôi trót thả vào tâm tưởng” (Cơ hội của Chúa). Hà Nội không chỉ hiện lên với dáng nét trầm mặc, cổ kính, tao nhã mà Hà Nội đang đổi thay, Hà Nội đang trở nên xô bồ, xấu xí và nhốn nháo trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà.

Cơ hội của Chúa thông qua một hình thức tự sự lồng ghép đa diện truyện trong truyện, chuyện tình yêu, tình bạn, quan hệ tay ba, chuyện tôn giáo và thế tục, chuyện cuộc đời đã dựng lên chân dung đời sống các thế hệ sống ở một Hà Nội bước vào giai đoạn kinh tế mở cửa những năm cuối thập niên 1980. Câu chuyện phản ánh tương đối rộng về đời sống của giới trẻ trí thức, những nhân vật chính của tiểu thuyết tiêu biểu cho một thế hệ trẻ Hà Nội trên con đường lập thân, lập nghiệp, đã yêu và sống khắc khoải nhưng cũng yếm thế buông xuôi. Nguyễn Việt Hà đã nói được trạng thái tâm lý của một thế hệ “mất mát”, cái trạng thái điển hình gặp ở nhiều nền văn học, nhưng trong Cơ hội của Chúa, nó mang cảm xúc của những góc phố Hà Nội đang biến đổi, cái biến đổi một đi không trở lại. Nguyễn Việt Hà không hề ngần ngại khi bóc trần những đổi thay của Hà Nội trong bối cảnh mới. Thiên nhiên tàn tạ và xác xơ, không khí đã vẩn những gam màu tối, những điều khuất lấp: Hà Nội tàn thu… Bãi cỏ hồ Tây bị nắng hanh đầu đông làm xám khô; Tôi sống ở mảnh đất gọi là Thủ đô Hà Nội, ở thời gọi là khinh tế thị trường. Cái xấu, cái tốt đều hiện hữu bằng bộ mặt rất thực; Tháp Rùa ngơ ngác nhìn Hà Nội đang quen dần buôn lậu và tập tọng nghiện ngập; mặt trái của nền kinh tế thị trường… Chín mươi ba phần trăm các công ty tư doanh chọn sự lừa đảo làm kim chỉ nam của hoạt động nghiệp vụ… Nhà văn mô tả công sở một cách hài hước với những nhân vật vô tích sự và một không khí trì trệ để vẽ ra một hệ thống công sở cũng như cuộc sống công chức trì đọng, nhàm chán. Những biểu tượng ngàn năm của kinh đô dường như bị lung lay diễn tả những hoài nghi, bi quan của con người: Tháp Rùa đổ chổng ngược và sóng hồ duềnh lên…. Nhân vật sau một thời gian xa Hà Nội cảm thấy hụt hẫng, xót xa: Hà Nội những năm tháng không có mình đã ra vậy đấy.

Hà Nội trong Khải huyền muộn cũng đang chuyển mình theo nhịp sống hiện đại. Đời sống đô thị bên cạnh những mặt tích cực còn kéo theo nhiều hệ lụy của nó Sinh hoạt công chức là một vũng lầy đọng nhiều những thói nửa hay nửa dở của đám tiểu thị dân. Một phòng lắp máy điều hòa chưa tới trăm thước vuông gồm khoảng ba chục người lổn nhổn giới tính và tuổi tác…Sền sệt giống nhau, quyện vào nhau; Đường chùa Bộc vào lúc tan tầm đông nườm nượp các loại xe; trong một quán có vườn ở Nhật Tân. Cái xã ngoại ô nham nhở đất canh tác này đang thời thượng trở thành vùng ẩm thực đặc sản thịt nửa ruộng nửa rừng; Phía trước cổng đền Ngọc Sơn gió đầm thật ẩm và thật thoáng. Khoảng nửa tiếng nữa đám mới lớn con nhà kha khá sẽ tập trung đua xe; Trời nắng chang chang nóng. Có một bể bơi không tường chắn, rất nhiều thiếu nữ mười sáu mười bảy nằm ngổn ngang phơi người, tự lấy tay xoa ngực trần bằng những nắp hộp kem loằng ngoằng chữ Hàn Quốc; Nước hồ xanh một màu buồn buồn không soi rõ mặt người… Cái nhìn của Nguyễn Việt Hà về một Hà Nội  phôi pha, hư hao nền nếp chứa đựng những tiếc nuối pha khinh bạc. Hà Nội đang dần đổi thay nhưng không thể không nhận ra có những giá trị đang mai một, đang bị bào mòn. Không gian Hà Nội nóng hơn, ngột ngạt hơn có cảm giác như đang rã rời và tan hoang ra. Không gian đó đã góp phần khắc họa sự chông chênh, hoang hoải của con người trước một cuộc sống đang xoay vần chóng mặt với những mặt trái của nền kinh tế thị trường, của cơn lốc đổi mới.

Đặc biệt trong Ba ngôi của người, Nguyễn Việt Hà đã sắc sảo dựng lên một bức tranh hiện thực về Hà Nội với sự trần trụi và nghiệt ngã. Tiếp nối mạch chủ đề của Cơ hội của chúa Khải huyền muộn, Ba ngôi của Người một lần nữa bóc ra những lớp đan cài phức tạp của một Hà Nội dồn dập những “sóng lớp phế hưng” trong thời gian tồn tại. Hà Nội của bảy năm gần đây ít nhiều biến đổi thô lỗ và nhộn nhạo đạo đức. Hà Nội hiện lên xấu xí, nhốn nháo: Hà Nội giờ đây đã có sàn vàng, sàn giao dịch chứng khoán và nhan nhản nhiều nhà nghỉ; Thảo nào Hà Nội dạo này có cháo chửi phở quát; Nhà nghỉ nhiều nhan nhản đã làm cho Hà Nội trở nên một con đĩ thập thành; Hà Nội bây giờ thì buồn quá, nó không quá nghèo nhưng vô đạo và ít học hay thành phố đang loay hoay tha hóa… Những điều nền nã, thanh lịch xưa giờ đang bị dung tục hóa. Giữa một Hà Nội trong quá trình đổi thay, chân dung nhân vật hiện ra. Họ sinh ra ở mảnh đất được gọi là nghìn năm văn hiến, thế nhưng những biến động của thời mở cửa đã khiến họ bị cuốn theo dòng chảy của thời cuộc. Không gian tân thời của Hà Nội diễn tả một số đông nhân vật đang bị tha hóa: Một thế hệ rỗng tuếch vô đạo không lý tưởng, nhỏ dãi nhảy chồm chồm trước tiện nghi vật chất. Tác phẩm đầy rẫy những cảnh tượng cười ra nước mắt, những nhân cách lệch lạc, méo mó: những người đẹp ham vật chất sẵn sàng đánh đổi tất cả, bỏ người yêu để đến với gã con buôn ít học, có thể mua điện thoại xịn, túi hiệu cho mình, những tay buôn lậu, đám trẻ mới lớn có thói quen uống phê phê rồi rủ nhau vào nhà nghỉ bầy đàn làm tình; Cả một đám đông rùng rùng chuyển theo một hướng. Ngày xưa là vì tổ quốc vì nhân loại vì lý tưởng, còn ngày nay là vì gái vì tiền vì cá nhân hưởng thụ… Không gian gặp nhau của các nhân vật không còn nên thơ như những cuốn tiểu thuyết trước, hai cha con Tôi – Kun gặp nhau ở điểm hẹn trong một tòa nhà xấu xí nhìn thẳng ra Hồ Gươm. Và ở điểm nhìn ấy, bao cái nham nhở lem luốc của đô thị phơi ra cả. Tâm trạng của các nhân vật theo đó cũng tiêu cực theo. Những con người của phố phường Hà Nội, bải hoải trong nỗi bận rộn và ồn ã trong sự biếng lười. Hà Nội của thập niên thứ hai thế kỷ này đã không còn nhiều chất thơ cho nhân vật của Nguyễn Việt Hà. Mối tương tác giữa con người đô thị Hà Nội với xã hội họ đang sống ở đây bàng bạc màu sắc hư vô. Văn của Nguyễn Việt Hà cũng giống như bối cảnh chính trong truyện – không gì khác ngoài Hà Nội, có sự chông chênh giữa nét tinh tế nao nao với sự thô nhám chao chát của đời sống thị dân nơi này. Không còn nét bàng bạc thanh nhã thơ mộng hoài niệm của phong rêu hay nâu trầm ngói đổ, không còn sự dịu dàng thanh lịch tinh tế nét người Hà Nội gốc xưa. Hà Nội giờ bụi bặm và có nhiều dáng vẻ nhếch nhác, con người bắt đầu chao chát, thực tế tiền tài địa vị danh lợi dục tình đếm đo, để cục cằn thô lỗ độc ác chà đạp phẩm giá lương tri dẫn tới sự suy hoại của từng góc đường con phố. Cái hồn không còn, cái xác chết đi. Hà Nội hiện lên hư hao đến xót lòng.

Viết về Hà Nội Nguyễn Việt Hà viết bằng kí ức và nỗi nhớ. “Khi nhớ, lẽ thường, người ta vẫn hay nhớ về những gì đẹp đẽ. Để rồi, con người đâu dễ tránh được cảm thức xót xa khi những điều tốt đẹp đó không còn trong hiện tại. Cũng bởi vậy, diễn ngôn của tôi đôi khi có chút cay đắng, câu chữ có phần chua ngoa”.  Đó vừa như lời nhà văn tự bộc bạch, vừa là lời giải đáp cho thắc mắc của một độc giả - “Tại sao Nguyễn Việt Hà viết về Hà Nội buồn và góc cạnh thế?”. Nguyễn Việt Hà là một cây bút thuộc thế hệ 6X của phố cổ, với hơn năm mươi năm sống ở Hà Nội nên đã quá gắn bó với mảnh đất này. Anh nghiệt ngã với Hà Nội vì anh cảm nhận sâu sắc và đắng xót trước sự nhộn nhạo của Hà Nội hôm nay. Họa sĩ Lê Thiết Cương - người bạn thân của Nguyễn Việt Hà - nhận định: “Nếu đọc Ba ngôi của người, độc giả cảm thấy buồn, thì đã hiểu được Nguyễn Việt Hà. Bởi đúng là anh ấy buồn khi viết về những cảnh huống ấy của Hà Nội”. Đó là cách Nguyễn Việt Hà báo động về hiện thực Hà Nội, bởi anh đang lo sợ một sự mất mát, một sự qua đi của những cảnh quan, phong tục, giá trị văn hóa truyền thống của Hà Nội xưa.

6. Đọc tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, người đọc bị cuốn hút vào mạch truyện hấp dẫn bởi lối kể chuyện có nhiều cách tân độc đáo, cách dẫn dắt, miêu tả cầu kì công phu, giọng văn giễu nhại hài hước xen những đoạn trữ tình thấm đẫm men say. Bên cạnh những thủ pháp kĩ thuật hiện đại lồng ghép, cắt dán, liên văn bản…, nhà văn sử dụng không gian nghệ thuật như một phương tiện nghệ thuật quen thuộc để biểu đạt những ấp ủ nung nấu trong tâm can sâu thẳm, để thể hiện những nghĩ suy, cảm xúc đối với cuộc sống nhân sinh. Hà Nội của Nguyễn Việt Hà mang hơi thở náo nhiệt đương đại nhưng cũng giữ những nét xưa cũ. Và dù là nhà văn phản ánh những gam màu tối với cái nhìn bi quan về thủ đô hay những đoạn miêu tả đẹp về không gian, con người đất Tràng An, vẫn luôn thấy thấm đẫm trên trang viết tình yêu sâu lắng, xót xa mà vẫn tràn trề hy vọng về mảnh đất Thăng Long xưa, một tấm lòng “xót xa yêu Hà Nội” của Nguyễn Việt Hà. “Hà Nội muôn đời vẫn vậy! Một thành phố nghìn năm tuổi thì đương nhiên tích tụ trong lòng nó những giá trị đặc biệt mà không phải bất cứ ai muốn phá, muốn làm hỏng là có thể dễ dàng thực hiện được. Ở đó có những thị dân mang trong mình một phẩm tính đặc biệt - độ tinh tế”- nhà văn bày tỏ.

Nền tảng văn hoá, vốn Hà Nội của Nguyễn Việt Hà được tích lũy từ những trải nghiệm, thâm nhập sâu sắc qua nhiều năm tháng gắn bó với đời sống hiện thực Hà Nội. Dù Hà Nội là đề tài đã có nhiều nhà văn khám phá nhưng trong tác phẩm của Nguyễn Việt Hà vẫn hiện lên những nét mới, những nhận thức mới về mảnh đất Hà Nội, là bức ký hoạ với những nét buồn mong manh bằng hình tượng ngôn từ sống động.

Tóm lại, không gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách, số phận nhân vật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Không gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học, là phương tiện chiếm lĩnh đời sống, là mô hình nghệ thuật về cuộc sống. Không gian nghệ thuật góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của mỗi nhà văn. Trong cái nhìn rất riêng, thăm thẳm, nhà văn Nguyễn Việt Hà đặc biệt thể hiện thành công khi tái hiện một không gian đời sống của người Hà Nội hôm nay.

Giáo viên: Nguyễn Thị Ngọc Lê

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Việt Hà (1999) Cơ hội của Chúa, Nxb Văn học
  2. Nguyễn Việt Hà (2005) Khải huyền muộn, Nxb Hội Nhà văn
  3. Nguyễn Việt Hà (2014) Ba ngôi của người, Nxb Trẻ
  4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội.
  5. Trần Đình Sử (1999), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục.
  6. Tài liệu Internet

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm