Home Tổ chuyên môn Văn Thư viện chuyên môn BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT VÀO VIỆC DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT VÀO VIỆC DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT VÀO VIỆC DẠY HỌC

MỘT SỐ TÁC PHẨM  VĂN  HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Với mỗi tác phẩm, mỗi hiện tượng văn học luôn có nhiều con đường, nhiều cách thức để người học khám phá , tiếp cận. Gần đây, những thành tựu của ngành tự sự học nói chung đã mở ra nhiều triển vọng cho công tác nghiên cứu, tìm hiểu tác phẩm văn học. Trần thuật là một phương diện cơ bản của tự sự, chi phối mạnh mẽ mạch vận động của tác phẩm cùng bố cục, kết cấu tác phẩm, cho ta nhìn thấy vị trí, góc nhìn của người trần thuật, mọi diễn biến tấm lí, hành động của nhân vật, diễn biến cốt truyện. Chỉ rõ cho học sinh thấy những nét đặc sắc của tác phẩm từ phương diện này sẽ giúp học sinh thấu suốt sự vận dộng, đi lên của bản thân các nhà văn cũng như sự vận động không ngừng của chính bản thân nền văn học, tạo điều kiện để học sinh cũng có thể trở thành những “người đồng sáng tạo”, biết cách lấp những chỗ trống, những “khoảng trắng” của tác phẩm văn học.

1.Tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi: đây là một trong những truyện ngắn thể hiện rất rõ bút pháp, phong cách nghệ thuật Nguyễn Thi. Nội dung câu chuyện kể về truyền thống đánh giặc của gia đình anh Giải phóng quân tên là Việt, qua đó có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của con người Nam Bộ trong những năm gian khổ chống Mỹ cứu nước thể hiện qua lòng yêu nước, căm thù giặc, tình cảm gắn bó trong gia đình. Tất cả tạo nên một sức mạnh tinh thần to lớn giúp họ vượt qua khó khăn, gian khổ, mất mát hy sinh.

Để thể hiện nội dung trên, Nguyễn Thi đã có sự sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện. Để thấy rõ sự độc đáo này, giáo viên bắt đầu hướng dẫn học sinh tìm hiểu tình huống truyện. Tình huống của câu chuyện là một yếu tố quan trọng dẫn đến lối kể sáng tạo và việc tổ chức điểm nhìn trần thuật. Đó là tình huống anh Giải phóng quân tên Việt bị thương nặng trong một trận đánh phải nằm lại giữa chiến trường và nhiều lần ngất đi, tỉnh lại. Giữa những lần ngất đi tỉnh lại đó là những dòng ý thức, những hồi ức về quá khứ, về người thân và những cảm xúc nội tâm của nhân vật Việt. Truyện được kể theo dòng nội tâm khi đứt (ngất đi), khi nối (tỉnh lại) của nhân vật .

Nếu xem xét về hình thức kể thì truyện được kể theo  ngôi thứ ba, trong đó nhân vật Việt là đối tượng được thuật kể. Đây là phương thức kể phổ biến trong tác phẩm tự sự. Tuy nhiên ở truyện này, Nguyễn Thi đã thể hiện một sự sáng tạo riêng, độc đáo trong cách kể. Tác giả đã khéo léo trao cho nhân vật nhiệm vụ kể chuyện. Thông qua những dòng hồi tưởng liên tục sau những lần ngất đi rồi tỉnh lại, quá khứ lại hiện về trong tâm trí nhân vật qua những mẩu hồi ức. Nối kết những hồi ức đó, người đọc có thể hiểu câu chuyện về truyền thống đánh giặc của một gia đình nông dân Nam bộ, ý nghĩa tư tưởng chủ đề của tác phẩm cũng từ đó toát lên. Với cách kể này, người trần thuật như lùi lại phía sau để dòng ý thức của nhân vật trực tiếp xuất hiện. Do vậy người kể không phải thuộc dạng người kể chuyện “toàn tri” biết hết mà ban phát thông tin. Người kể hầu như biết ít hơn nhân vật nên cũng phải dõi theo tâm tư nhân vật để tiếp cận câu chuyện.

Câu chuyện chủ yếu được kể lại theo điểm nhìn của nhân vật, mang ý thức, giọng điệu của nhân vật. Cho nên, lời nói nửa trực tiếp, tức lời gián tiếp nhưng đã mang ý thức và giọng điệu nhân vật, được khai thác tối đa. Truyện cũng đan xen với ngôn ngữ và điểm nhìn của người trần thuật. Đó là những lúc cần dẫn dắt câu chuyện để đi vào dòng ý thức của nhân vật, lúc này tác giả sử dụng lời gián tiếp để tái hiện sự việc xảy ra phía bên ngoài nhân vật với điểm nhìn khách quan của người trần thuật tạo nên khoảng cách giữa người kể và nhân vật. Nhưng ngay sau đó tác giả lại trao ngòi bút cho nhân vật để nhân vật tự kể lại câu chuyện theo điểm nhìn và ý thức của mình. Điểm nhìn do vậy có sự di chuyển từ bên ngoài vào bên trong, từ người trần thuật sang nhân vật. Dường như không còn có sự tách bạch rõ ràng giữa lời gián tiếp và trực tiếp. Lúc này người kể như thâm nhập sâu vào ý thức của nhân vật.

Do đặt câu chuyện trong một tình huống đặc biệt nên điểm nhìn của nhân vật cũng dịch chuyển liên tục trên trục thời gian đan xen hiện tại – quá khứ. Sự việc ở hiện tại đã có tác dụng khơi gợi dòng hồi ức của nhân vật về quá khứ. Điều này dẫn đến việc sắp xếp các yếu tố không gian, thời gian không theo trật tự thông thường: không gian hiện tại dẫn dắt nhân vật hồi tưởng về quá khứ  trong sự liên tưởng chập chờn, đứt nối. Thời gian cũng không đi theo trục tuyến tính mà theo dòng ý thức của nhân vật từ hiện tại trôi giạt về quá khứ và trở lại hiện tại. Điều này phù hợp với hoàn cảnh của nhân vật trong những lần liên tục ngất đi rồi tỉnh lại.

Sự độc đáo trong cách kể và tổ chức điểm nhìn trần thuật đã góp phần dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc câu chuyện: Sự kiện trong câu chuyện không đi theo một trật tự thông thường mà đảo lộn: sự kiện, nhân vật xuất hiện tùy thuộc vào hồi ức nhân vật mỗi lần ngất đi rồi tỉnh lại: lần 1, lần 2, lần 3… Bắt đầu là một sự kiện của hiện tại: Việt bị thương ở chiến trường và mỗi lần tỉnh lại những dòng hồi ức lại đưa người đọc quay về quá khứ để tiếp cận với câu chuyện của gia đình Việt. Những hồi ức này không tách rời thực tại mà có sự đan xen với những suy nghĩ từ hiện tại gắn liền với hoàn cảnh hiện tại của Việt. Những gì nhân vật cảm nhận từ hiện tại có tác dụng gợi nhớ về quá khứ, gợi ra những liên tưởng khi gần khi xa, chuyện này dẫn sang chuyện khác. Câu chuyện cứ thế diễn tiến tự nhiên, biến hoá, hợp qui luật tâm lí của nhân vật. Ví dụ trong lần tỉnh lại thứ tư, trong hồi ức của Việt hiện ra hình ảnh người mẹ với những kỉ niệm mà Việt không thể quên: “ Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuồng lên cho Việt ăn…”. Trong lòng Việt chợt dậy lên một khát khao: “Ước gì bây giờ lại được gặp má.”. Dòng hồi ức chấm dứt khi những giọt mưa lất phất làm Việt choàng tỉnh cảm nhận rõ sự vắng lặng xung quanh khiến Việt nhớ đến câu chuyện các chị vẫn nói ở nhà về “con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chõng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông”. Rồi từ thực tại, âm thanh của một loạt súng lớn dội lại ầm ĩ đem đến cho Việt một cảm xúc cụ thể “ Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ”. Việt lắng nghe và nhận ra đó là tiếng súng của ta, Việt càng nhớ về đồng đội, những người thân thiết đang cùng Việt chiến đấu, họ hiện ra rõ mồn một trong tâm trí Việt với “ cái cằm nhọn hoắt ra của anh Tánh, nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên…”. Ngay khi ấy, những dòng độc thoại nội tâm của Việt như muốn hướng tới các đồng đội của mình: “ Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút…”. Rõ ràng cách kể trong đoạn văn này đã giúp cho tác giả vừa thuật lại diễn biến câu chuyện vừa diễn tả được tâm lí nhân vật đồng thời khắc hoạ được tính cách của người chiến sĩ trẻ giàu tình cảm, dũng cảm, kiên cường dù đã bị trọng thương nhưng vẫn sẵn sàng tư thế chiến đấu. Cách kể như thế không đi theo lối mòn truyền thống mà lôi cuốn người đọc đi theo một con đường riêng để nắm bắt câu chuyện. Qua đó có thể thấy tác giả đã tạo cho tác phẩm của mình một hình thức kết cấu rất đặc biệt với hai phần nội dung rõ rệt:

+ Nối kết các hồi ức đứt nối của nhân vật về quá khứ, về người thân, người đọc có thể hiểu câu chuyện về truyền thống đánh giặc của một gia đình tiêu biểu cho những con người Nam Bộ trong những năm chống Mỹ cứu nước. Phần này thiên về những sự kiện và có thể sắp xếp lại tạo thành một cốt truyện cụ thể.

+ Song hành với những sự kiện được hồi tưởng lại là những suy nghĩ, cảm xúc thuộc thế giới nội tâm của nhân vật được tái hiện tinh tế tạo thành dòng ý thức cũng đứt nối qua những lần ngất đi, tỉnh lại. Qua dòng ý thức này, tính cách của nhân vật cũng được bộc lộ rõ. Mặt khác, đi theo dòng ý thức của nhân vật, đối tượng được miêu tả mở rộng dần, các nhân vật khác cũng dần dần hiện ra: Má, chú Năm, chị Chiến, đồng đội…Các nhân vật này không được tác giả khắc họa một cách trực tiếp mà được soi trong  cái nhìn, cách cảm nhận, đánh giá và tình cảm của nhân vật Việt nhưng tính cách của những nhân vật ấy cũng hiện ra sống động, chân thực, khách quan.

2. Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao: Có thể thấy, ở tác phẩm này, điểm nhìn được thay đổi từ điểm nhìn bên ngoài đến điểm nhìn bên trong, từ điểm nhìn không gian đến điểm nhìn thời gian, từ điểm nhìn một người đến điểm nhìn của số đông, có khi điểm nhìn trao cho nhân vật này, lúc thì trao cho nhân vật khác, nghĩa là toàn truyện có một sự di chuyển điểm nhìn liên tục. Với truyện ngắn này, học sinh bước đầu dễ dàng phát hiện ra sự “bất thường” ngay ở đoạn văn mở đầu văn bản.

Với nhân vật Chí Phèo, mở đầu truyện ngắn là cái nhìn trần thuật của người kể chuyện. Sau đó, với hình thức lời nửa trực tiếp, điểm nhìn của chủ thể trần thuật lại hóa thân vào điểm nhìn của Chí Phèo: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng người nào? Rồi hẳn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai… Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Tức thật! Ồ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn”. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh thấy rõ điểm này để thấy được tính chất khách quan, lạnh lùng và đa giọng điệu - một nét nổi bật trong phong cách của Nam Cao. Trong “Chí Phèo”, xuất hiện dày đặc kiểu lời nói nửa trực tiếp như thế. Hình thức này cho phép chủ thể trần thuật di chuyển điểm nhìn rất linh hoạt tạo nên nhiều góc nhìn khác nhau,trở nên linh động và tự nhiên, đồng thời với kiểu độc thoại nội tâm, chủ thể trần thuật có điều kiện soi chiếu vào những mảng tâm trạng sâu kín nhất, những bi kịch cá nhân của nhân vật.

Kiểu kể chuyện này cũng chiếm một ưu thế không nhỏ trong truyện ngắn Nam Cao. Điều đó giải thích vì sao truyện ngắn Nam Cao phần nhiều thuộc truyện ngắn tâm lý và cũng giải thích vì sao kết cấu truyện ngắn Nam Cao được đánh giá là thuộc kiểu kết cấu tâm lí nhiều hơn. Ngòi bút của tác giả có điều kiện thuận lợi để thâm nhập vào thế giới tâm linh, ý thức bên trong nhân vật. Độc giả sẽ khai thác nhân vật ở các khía cạnh chiều sâu tâm lí, tư tưởng qua các lớp suy nghĩ ẩn tàng bên trong nhân vật. Tóm lại, hình thức xuất hiện đa dạng, phong phú của chủ thể trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao đã chứng tỏ một khả năng tìm tòi, sáng tạo mạnh mẽ trong bút lực của ông. Điều mà ông luôn trăn trở đối với mỗi người cầm bút là cần phải: “Khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”.

3.Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Truyện được tác giả xây dựng trên cơ sở chồng xếp bởi nhiều câu chuyện nhỏ khác nhau trong một mạch thống nhât. Chuyện của nghệ sỹ Phùng đi chụp ảnh ở biển; chuyện như một nghịch lý của vợ chồng người đàn bà làng chài; chuyện bất ngờ của người đàn bà ở tòa án huyện; chuyện gia cảnh của người đàn bà làng chài; chuyện về thằng Phác… Đan xen bởi nhiều câu chuyện đã mang đến cho Nguyễn Minh Châu và người đọc có nhiều điểm nhìn hơn với nhiều góc cạnh xù xì, thô giáp vốn có của cuộc sống và con người.

Ở đây, nhà văn trao điểm nhìn trần thuật cho Phùng, nhân vật- người kể chuyện là cách chọn tối ưu. Ngôi kể được đặt ở vị trí ngôi thứ nhất. Phùng kể lại kể chuyện mình trực tiếp chứng kiến, trực tiếp tham gia vào biến cố câu chuyện. Đó là khi Phùng được cơ quan giao cho nhiệm vụ đi chụp ảnh về biển. Phùng đã“vác” máy ảnh trở lại vùng biển nơi chiến trường cũ của anh thời đánh Mỹ. Cảnh biển buổi sáng có sương mù mà anh “phục kích” mấy buổi sáng vẫn chưa tìm ra. Anh háo hức muốn thu vào tờ lịch tháng bảy năm sau cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc bình minh thì sáng nay anh đã gặp “hên” một cảnh “trời cho”, có lẽ suốt một đời cầm mấy chưa bao giờ dám mơ tưởng đến.  Còn đâu nữa cái màu trắng, màu hồng của bức tranh “toàn bích” khi một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền lội qua một quãng bờ phá đi lên bãi cát. Một tiếng nói chõ như quát cất lên: “Cứ ngồi nguyên đấy, động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”. Người đàn bà ngoài bốn mươi tuổi, cao lớn, thô kệch, rỗ mặt, mệt mỏi, tái ngắt… Người đàn ông đi sau “lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền; mái tóc tổ quạ, chân chữ bát, lông mày cháy nắng, rủ xuống”,… Lão đàn ông “hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà”.

Những gì xảy ra đã xảy ra sau đó. Bãi cát, nơi xác chiếc xe rà phá mìn đã trở thành nơi hành tội. Lão đàn ông “trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay”, hắn lồng lên như một con thú dữ. Lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa, cái vũ khí thường ngày của kẻ gần như mất hết cả nhân tính, “quật tới tấp vào lưng người đàn bà”. Hắn“vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két”. Lão “trút cơn giận như lửa cháy” vào người đàn bà tội nghiệp, đáng thương. Lão nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ!”Mày và chúng mày mà lão nói đến là vợ con của lão. Thật kì lạ là người đàn bà khổ nạn ấy không kêu một tiếng, không chống trả, không trốn chạy mà “cam chịu đầy nhẫn nhục”. Hình ảnh đau lòng đó đã làm cho nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh “kinh ngạc”,“đứng há mồm ra mà nhìn” trong mấy phút...

Người kể chuyện đóng vai nhân vật nhảy vào các biến cố, tham gia trực tiếp vào các diễn biến của cốt truyện, rồi kể lại cho bạn đọc nghe; điều đó đã tạo ra xu hướng trần thuật tiệm tiến gần hơn với sự thật ngoài đời. Thứ nữa, Phùng là người trải nghiệm, giàu vốn sống  nên lời văn trần thuật chứa nhiều yếu tố triết lý.

Nguyễn Minh Châu đã đa dạng hóa, di chuyển điểm nhìn từ tác giả đến người kể chuyện, đến các nhân vật như nhiếp ảnh Phùng, rồi chánh án Đẩu và đặc biệt có lúc nhà văn trao cho nhân vật chức năng trần thuật để cho người đàn bà hàng chài tự kể lại cuộc đời mình. Chị kể về thời con gái của mình, mụ tâm sự về chuyện lấy chồng của mình: mặt rỗ, xấu gái, không ai lấy, rồi có mang với anh con trai… “lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Chị kể chuyện từ ngày cách mạng về đỡ khổ, chứ trước đây những lần động biển, vợ chồng con cái toàn ăn xương rồng luộc chấm muối suốt hàng tháng trời. Chị ta than thở gia cảnh nghèo, thuyền quá nhỏ… Đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá; đàn ông ở thuyền hoặc uống rượu hoặc đánh vợ, bất kể lúc nào, hễ thấy khổ quá là xách vợ ra đánh. Chị ta cho biết nỗi vẫt vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông, nhất là những khi biển động sóng gió để chèo chống. “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn, cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được…”. Chị cho biết chồng chị ngày trước cũng trốn đi lính nguỵ. Chị cũng có niềm vui là khi vợ chồng con cái “sống hoà thuận vui vẻ”,“vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con được ăn no”, v.v…

Sự di chuyển điểm nhìn đã giúp cho nhà văn có cái nhìn đa diện, nhiều chiều về nhân vật, về sự việc và hơn cả đó là sự phức tạp về cuộc sống mà nhà văn đang thể hiện trong tác phẩm. Khi luôn thay đổi nhiều điểm nhìn, tác giả sẽ có thể soi chiếu đối tượng bằng nhiều cách nhìn, nhiều góc nhìn khác nhau. Thế giới tâm hồn của nhân vật lại được chính nhân vật bộc bạch, có khi lại được soi chiếu lẫn nhau. Nhờ đó, câu chuyện trở nên phong phú hơn về giọng điệu và đồng thời cũng trở nên khách quan hơn. Tăng thêm tính thời sự cho câu chuyện.

Chính vì đặc điểm này trong trần thuật mà sự đa giọng điệu là nét đặc trưng cơ bản trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa. Tác giả đưa vào lời nhân vật kể chuyện những đánh giá, những cách nhìn nhận khác nhau về cùng một vấn đề. Đó là câu chuyện xảy ra ngay trên bờ biển khi người đàn ông giáng xuống vai người đàn bà khốn khổ những trận đòn quái ác. Sự đan xen của nhiều giọng điệu khác nhau, có giọng điệu ngợi ca trữ tình lãng mạn qua miêu tả khung cảnh biển bình minh “đẹp như trong mơ”; có giọng điệu xót thương, chua chát qua sự cảm thương tình cảnh của người đàn bà làng chài; có giọng điệu phẫn uất, mỉa mai, dằn vặt qua đoạn miêu tả sự ác dữ của người đàn ông làng chài; có giọng thâm trầm triết lý, suy tư sau hàng loạt câu chuyện trong tác phẩm.

Như vậy, qua phân tích một số văn bản văn học, có thể thấy, tính khả thi của phương pháp này trong thực tiễn chính là tạo cơ hội cho học sinh, đặc biệt là các học sinh theo chương trình nâng cao tìm kiếm được con đường hữu hiệu nhất để đến với một số tác phẩm văn xuôi tự sự hiện đại trong chương trình sách giáo khoa phỏ thông ngoài những cách khai thác truyền thống, quen thuộc.Vận dụng những hiểu biết cơ bản nhất về tự sự học để khám phá một tác phẩm tự sự hiện đại sẽ giúp các em nhín thấy rõ hơn những cách tân về nghệ thuật của từng nhà văn, qua đó góp phần đânh giá chính xác, toàn diện hơn vị trí, đóng góp của mỗi nhà văn đối với sự phát triển của nền văn học nước nhà.

Thanh Huế

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm