Home Tổ chuyên môn Văn Thư viện chuyên môn RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH

I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH

Trong chương trình Ngữ văn THPT, đọc văn luôn gắn liền với làm văn tạo nên hai mặt hữu cơ thống nhất. Song nhìn tổng quan, phân môn đọc văn có vẻ được ưu ái hơn so với làm văn. Làm văn có số tiết không nhiều nhưng lại bao gồm cả hai mảng: lí thuyết và thực hành, và luôn hướng đến rèn luyện kĩ năng nghị luận văn học (NLVH) song song với nghị luận xã hội (NLXH). Như vậy thời lượng dành cho rèn luyện kĩ năng NLXH trong chương trình THPT còn khá khiêm tốn.

Những kì thi quan trọng trong đời học sinh từ thi học kì, thi học sinh giỏi đến thi THPT quốc gia... đều có bài NLXH. Và quan trọng hơn là sau khi tốt nghiệp phổ thông, cuộc đời học sinh có nhiều ngã rẽ, không phải học sinh nào cũng có điều kiện và đam mê để theo đuổi việc học Ngữ Văn hay lấy Văn làm sự nghiệp. Vì thế mà, NLXH tuy chiếm tỉ trọng điểm thấp hơn trong các kì thi phổ thông, nhưng lại rất cần thiết với cuộc đời của mỗi con người. Văn nghị luận, nhất là NLXH chính là tinh hoa của các môn khoa học xã hội. Biết nghị luận là con người biết phán đoán và suy luận, có tư duy logic để trình bày và bảo vệ quan điểm của mình; đồng thời biết phản bác những quan điểm, nhận thức sai lệch một cách thuyết phục. Rõ ràng việc thể hiện, tranh luận và bảo vệ hay bác bỏ các quan điểm là một thước đo quan trọng đối với sự trưởng thành của mỗi con người.  Như vậy, rèn luyện kĩ năng NLXH cho HS sẽ không chỉ nhằm kiểm tra kiến thức tổng hợp về mọi mặt đời sống của HS,  mà còn nhằm phát triển khả năng tư duy và phẩm chất nhân cách con người.

NLXH quan trọng như thế nhưng trong trong thực tế, việc rèn luyện kĩ năng NLXH cho HS vẫn chưa tương xứng với tầm của nó. Những tác giả nghiên cứu sâu về làm văn lại thiên về lí thuyết, hàn lâm; những giáo viên gần với thực tiễn làm văn của HS lại thiếu sự khái quát, hệ thống về những vướng mắc, những lỗi kĩ năng thường gặp của HS. Vì vậy cần có những tìm hiểu sâu hơn về thực trạng và những lỗi HS thường mắc khi làm bài văn NLXH. Từ đó đưa ra những định hướng, chỉ dẫn để HS biết cách NLXH thiết thực, hiệu quả hơn trong những kì thi trước mắt và trong cuộc đời lâu dài về sau.

II. MỘT SỐ YÊU CCẦU VỀ KĨ NĂNG NLXH

1. HS cần hiểu đặc trưng của NLXH và thể hiện rõ những đặc trưng đó trong bài NLXH

HS thường hiểu đặc trưng của NLXH, nhưng chưa ý thức đầy đủ về sự cần thiết làm bài văn NLXH đúng với đặc trưng kiểu bài. Do đó, chất xã hội trong bài còn thiếu, chưa có sự phân biệt rõ về kĩ năng NLXH và NLVH.

NLXH là một tiểu loại của văn nghị luận, nhằm trực tiếp phát biểu tư tưởng, quan điểm và tình cảm, thái độ của người viết về các vấn đề chính trị, đạo đức, lối sống...bằng ngôn ngữ trong sáng, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục.

Đề NLXH thực chất là một dạng câu hỏi, nêu yêu cầu để người viết giải đáp. Nó không phải là dạng câu hỏi yes/no, nên cần trả lời bằng một bài văn có luận bàn về đúng/sai, tốt /xấu, lợi/ hại, hay /dở, thật/giả...; có khẳng định mặt này, bác bỏ mặt kia; có phân tích, chứng minh, lí giải, so sánh...để bảo vệ tư tưởng quan điểm của mình về vấn đề và thuyết phục người đọc.

NLXH cần bày tỏ công khai quan điểm của người viết; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai lệch. Bên cạnh việc tác động vào lí trí, nhận thức bằng luận cứ xác đáng, lập luận chặt chẽ, NLXH còn tác động mạnh mẽ đến tình cảm người đọc. Do đó NLXH cần thấu tình đạt lí.

2. HS cần hiểu và đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của NLXH

a. Xác định luận đề

Luận đề là vấn đề cơ bản được triển khai xuyên suốt bài NLXH, nó được cụ thể hoá thành các luận điểm. Do đó việc xác định luận đề có vai trò đặc biệt quan trọng trong NLXH. Các đề văn nói chung luôn có sẵn yêu cầu về luận đề. Muốn xác định đúng và trúng luận đề, nên tuân thủ nguyên tắc là không viết ngay lúc vừa đọc đề. Trước khi đặt bút phải dành thời gian để suy nghĩ. Xác định đích đến và con đường cần đi trước khi cất bước, ta sẽ không bị lạc đường, tránh được những khúc quanh, ngã rẽ và đến đích nhanh hơn.

Để xác định luận đề, cần phải tìm từ khoá, xem xét cấu trúc ngữ pháp, các lớp nghĩa của nhận định và câu lệnh ở đề ra. Một số kiểu đề NLXH thường gặp là:

  • Đề chỉ có một vế (Ví dụ: Anh/chị suy nghĩ gì khi có ý kiến cho rằng “Chỉ có những kẻ hời hợt, nông nổi mới đánh giá con người dựa vào hình thức bề ngoài”)
  • Đề có hai vế có quan hệ chính phụ (Ví dụ: Anh/chị suy nghĩ gì về câu ngạn ngữ “Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người”, hay “Bạn đừng chờ đợi những quà tặng bất ngờ từ cuộc sống, mà hãy tự mình làm nên cuộc sống
  • Đề có hai vế quan hệ đẳng lập (Ví dụ: Anh/chị suy nghĩ gì khi có ý kiến cho rằng “Đối xử với bản thân bằng lí trí, đối xử với người khác bằng tấm lòng” hay “Trí tuệ giàu lên nhờ cái nó nhận được, tâm hồn giàu lên nhờ cái nó cho đi”
  • Đề đặt ra hai vấn đề có mối quan hệ tương tác hai chiều (Ví dụ: Quyền lực và năng lực,  Áp lực và động lực, Danh và thực, Lợi ích và giá trị, Thời thượng và vĩnh hằng, Chăm chỉ và tài năng, Cơ hội và thách thức)
  • Đề có hai ý kiến trái chiều (Có ý kiến cho rằng: “Hãy đi con đường của mình, mặc kệ người ta nói”, nhưng có ý kiến khác lại cho rằng “Người hay hỏi sẽ không lạc đường”) .

Xác định luận đề quan trọng vì nó chỉ ra trọng tâm nghị luận. Với câu nói của Lỗ Tấn: “Trên đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”, từ việc xác định luận đề là tác hại của sự lười biếng hay khuyên chăm chỉ siêng năng để thành công rõ ràng sẽ tạo độ vênh giữa hai bài nghị luận.

Ngoài dựa vào từ khoá, cấu trúc ngữ pháp...của nhận định, ý kiến, để xác định đúng và trúng luận đề, người viết cần xem xét đến nội dung nghị luận. NLXH nói chung và NL về một tư tưởng đạo lí nói riêng đều có nội dung vô cùng phong phú. Song có thể phân chia thành một số vấn đề cơ bản như: phẩm chất/ thói xấu (Ví dụ: “Một người đánh mất lòng tự tin vào chính mình, chắc chắn sẽ đánh mất nhiều điều tốt đẹp khác trong cuộc sống”, “Như một thứ a xít vô hình, thói vô trách nhiệm có thể ăn mòn cả một xã hội) ); nhận thức đúng sai (Là con người thì có sai lầm, chỉ có kẻ ngu xuẩn mới cố chấp sai lầm), Áp lực trong cuộc sống là điều không thể né tránh, cái quan trọng là phải biết biến áp lực thành động lực); hành động, ứng xử đúng sai (Hãy tha thứ cho người khác, nhưng đừng bao giờ tự tha thứ cho lỗi lẫm của mình; Đối xử với bản thân bằng lí trí, đối xử với người khác bằng tấm lòng)...Nhận thức đúng, hành động và ứng xử đúng thì cũng có ý nghĩa, giá trị như phẩm chất; còn nhận thức sai, ứng xử sai cũng tai hại như thói xấu vậy!

b. Xác lập và trình bày luận điểm

b1. Xác lập

Luận điểm là linh hồn của bài văn nghị luận. Không có nó, bài văn chỉ là cái xác vô hồn, trống rỗng. Luận điểm thực chất là sự cụ thể hoá của luận đề ở những phương diện khác nhau. Luận điểm trong NLXH phải rõ ràng, sát hợp với đề, phải đúng đắn, có tính khái quát và có ý nghĩa thực tế với xã hội.

Muốn tìm luận điểm, người viết phải trả lời các câu hỏi:

Phần giải thích (nhận diện vấn đề) thực chất là trả lời các câu hỏi: Là gì? Như thế nào? Ngụ ý gì?

Phần bình (khẳng định hoặc bác bỏ vấn đề) thực chất là trình bày quan điểm, đánh giá về vấn đề. Phần này nhằm trả lời các câu hỏi đúng hay sai? Vì sao như thế là đúng /sai? Dựa trên những cơ sở nào mà nhận định đúng/sai?

Phần luận (mở rộng, nâng cao vấn đề) thực chất là bàn bạc mở rộng về vấn đề. Phần này nhằm trả lời các câu hỏi: vấn đề cần được nhìn nhận trọn vẹn từ nhiều chiều, nhiều mặt như thế nào? Và đưa ra giải pháp: làm thế nào để có phẩm chất, nhận thức đúng, ứng xử đúng?

b2. Trình bày luận điểm

Có luận điểm rồi, người viết cần sắp xếp lô gic, đặt luận điểm trong các mối quan hệ chặt chẽ (nguyên nhân/ hệ quả, lí lẽ/thực tiễn...). Việc trình bày luận điểm không tách rời với cách đánh giá và cách lập luận. Cần vận dụng thao tác lập luận giải thích, định nghĩa xác lập cách hiểu làm cơ sở, sau đó chọn cách nhìn để nêu luận điểm. Với mỗi luận điểm, cần chọn một thao tác lập luận chủ yếu để triển khai.

Luận điểm phải được trình bày sáng rõ, bám đề; bài làm phải liên kết và hướng tâm mới có nội lực đủ mạnh để tác động, thuyết phục người đọc. Nên trình bày luận điểm theo lối diễn dịch hoặc tổng phân hợp. Câu chốt nên lặp lại từ khoá ở đề để tạo sự bám đề và tăng tính chất đối thoại với ý kiến, nhận định đã cho ở đề ra.

Nắm được các bước xác lập và trình bày luận điểm, biết vận dụng linh hoạt trong từng trường hợp, HS sẽ tránh được các lỗi lạc đề, sót ý, lặp ý, thiếu liên kết ý.

c. Lựa chọn luận cứ và thao tác lập luận

Văn NLXH không thể thuyết phục nếu chỉ có luận điểm mà không có luận cứ. Các loại luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) chính là nền tảng và chất liệu để tạo nên bài NLXH.  Muốn có kho luận cứ phong phú phải có ý thức tích luỹ dần kiến thức về: các vấn đề thời sự, sự kiện lịch sử; cuộc đời và sự nghiệp của các bậc danh nhân; các tư tưởng, lí luận của những nhà tư tưởng lớn như Mác, Khổng Tử, Đức Phật...; các tục ngữ, cách ngôn kết tinh trí tuệ của dân gian và nhân loại.

Luận cứ phải xác thực, tiêu biểu, nội dung luận cứ phải thống nhất với nội dung của luận điểm. Ví dụ để chứng minh cho ý kiến “Không có từ bỏ sẽ không có lựa chọn sáng. Từ bỏ không phải là một kết thúc thất bại mà có thể là bắt đầu của một thành công”, cần chọn dẫn chứng đảm bảo ba yêu cầu sau về nội dung: ai đó đã từ bỏ điều mình từng theo đuổi vì quá xa vời, vượt quá khả năng của bản thân; chọn theo đuổi một mục tiêu khác, phù hợp với bản thân hơn; thành công trong sự lựa chọn thay đổi của mình. Chỉ khi đáp ứng được các yêu cầu rất cụ thể về nội dung của luận điểm, luận cứ mới thuyết phục được người đọc.

Giáo viên: Nguyễn Thị Liễu Hoàn

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm